Đang tải...

Nghề Gốm cổ truyền ở Phước Tích chỉ còn là hoài niệm

Dòng sông Ô Lâu, nước lặng lờ trôi, uốn quanh bao bọc lấy ngôi làng, với những lũy tre xanh rủ mình xuống mặt nước, với những “nhà lò” nằm rải rác ở mé sông.
Bút ký của HỒ VĂN THÁI

        Phước Tích - ngôi làng nhỏ bé xinh xinh, ở về phía Bắc tỉnh Thừa Thiên Huế, giáp ranh với làng Mỹ Chánh, Hội Kỳ, Lương Điền thuộc huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Từ Huế ra khoảng 40km hoặc từ Quảng Trị vào ngã ba Mỹ Chánh, rẽ phải đi khoảng 1km dọc theo Quốc lộ 49B, qua cầu Phước Tích là đến địa phận Làng Cổ Phước Tích – một ngôi làng chuyên làm nghề đồ gốm từ ngàn xưa cách đây hơn 500 năm.

        Dòng sông Ô Lâu, nước lặng lờ trôi, uốn quanh bao bọc lấy ngôi làng, với những lũy tre xanh rủ mình xuống mặt nước, với những “nhà lò” nằm rải rác ở mé sông.

        Qua khỏi cầu Phước Tích, nếu đi thẳng con đường bê tông ở giữa có lót gạch qua cổng chào, khoảng hơn 100m ta sẽ gặp Hà Sen rất đẹp (gọi là Hà Sen vì mùa hè ở đây trồng nhiều Sen, nở rất đẹp). Khu vực này nếu có quy hoạch cải tạo tốt sẽ là một điểm đến hấp dẫn cho khách du lịch. Ở đây hàng ngày có rất nhiều loài chim : nào gà nước, cò, le le, vịt nước, chim chóc các loại đậu trên các lũy tre, các hàng mưng (miền Bắc gọi là dây Lộc Vừng) nghe tiếng chim hót líu lo và thưởng thức mùi hương thơm dịu của Sen, ta cảm thấy rất thoải mái, dễ chịu vô cùng. Còn nếu rẽ phải sẽ đi dọc theo con đường bê tông ở giữa lót gạch, ta sẽ đi qua Nhà thờ các Họ: Phan Công, Nguyễn Đình, Lương Thanh, Trần Ngọc,  Nguyễn Duy, Đình Làng (Đình Trung) ở khu vực xóm Đình (gọi là Đình Trung vì ở Làng tôi có 2 ngôi đình đó là Đình Đại thờ Thần Hoàng và Đình Trung). Đình Đại ở khu vực Xóm Cầu, gần chùa Phước Bửu, nhà thờ Họ Hoàng (nhà thờ của Ngài Khai Canh-Ngài sáng lập ra làng Phước Tích cách đây hơn 500 năm); Văn Thánh… Đình Đại rất tiếc bị tàn phá do chiến tranh, dấu tích còn lại nền móng. Đình Trung cũng bị tàn phá được làm lại năm 1956. Ngôi Đình Trung hiện tại được trùng tu, làm tiền đường (Đình Trung là nhà thờ phụng Ngài khai canh và Các Ngài khai khẩn) vào năm 1999. Ở đây còn dấu tích nền móng và 3 bia đá khắc tên và công đức của họ, của 3 cặp vợ chồng có nhiều công đức với Làng trong những năm đói kém.

        Ở khu vực này có nhiều ngôi nhà rường 3 gian2 chái rất đẹp như: nhà ông Huyện, nhà ông Hồ Văn Tế, nhà bà Trương Thị Thú, nhà ông Nghè, ông Lương Thanh Phong… Ẩn hiện trong những vòm cây trái xum xê, tươi tốt với đủ các loại trái cây như: cam sành, cam Xã Đoài, quýt Hương Cần, chanh, bưởi, thanh trà, hồng xiêm, vú sữa, mãng cầu, cau trầu, lựu…. Bao bọc các nhà là những hàng rào bằng cây chè tàu được cắt tỉa gọn gàng, thẳng tắp trông rất đẹp mắt.

        Rải rác dọc bờ sông, những ngôi nhà chóp nhọn, cao, lợp tranh mái phủ đến tận đất. Đó là những “Nhà Lò” dùng để nung sản phẩm gốm. Muốn làm đồ gốm nói chung như om, trách, lu, độôc ...nói riêng phải qua nhiều công đoạn. Trước hết phải nói đến đất sét. Đó là loại đất sét không cát, không trộn lẫn các tạp chất: Cha ông ta đã mua loại đất này (Mua cả 1 năm hoặc nhiều năm một khoảng ruộng vài sào ở vùng Diên Khánh thuộc huyện Hải Lăng Tỉnh Quảng Trị . Làng thì hẹp (diện tích khoảng 1,2 km2); dân số khiêm nhường: 320 người, 115 hộ ( Trong đó độ tuổi từ 60 tuổi trở lên khoảng 90 người, thanh niên thì rất ít) . Vì điều kiện làm ăn nên bà con tha phương còn nhiều hơn ở Làng. Thế nhưng, mỗi người con dân Làng Phước Tích luôn đau đáu hướng về quê nhà. Ở đó còn có cha mẹ già, người thân. Vào dịp Tết đến, Xuân về Lễ Hội - Đại lễ Làng, Họ bà con về rất đông. Qua bao mùa mưa lũ, nước chảy mạnh để trơ ra những mảnh sành (Trèn). Với bàn tay khéo léo của các nghệ nhân; với đôi chân khỏe mạnh, gân guốc những thợ đạp đất đã tưới nước, đạp nhuyễn những mảnh đất sét trăng trắng hình như đã cứng dần sau những lần mua về. Qua quá trình lao động, đất sét khô bây giờ trở thành một khối hơi đen đen, mềm dẻo. Tiếp tục là công việc của các “thợ xên, thợ chuốt”. Người "thợ xên” vừa dùng tay xoay chiếc bàn tròn di động xung quanh một cái trục được gắn chặt ở mặt nền, vừa nhồi nhuyễn trên những khối đất đã được cắt nhỏ. Trong lúc đó đôi bàn tay tài hoa của người “thợ chuốt” đã nắn thành hình mẫu (gồm các loại như: om, trách, ấm, lu, độôc, bình vôi …). Đất sét được đặt ở giữa bàn xoay và cứ thế người “thợ chuốt” đặt giữa chiếc bàn được người “thợ xên” đặt và xoay tròn.

 

        Mọi việc cứ thế tiếp tục đều đặn. Độ ít phút sau, hình dáng các om, trách, ấm, siêu … được hình thành. Những thứ ấy được đem đi phơi nắng cho đến khi hơi cứng. Bây giờ đến công đoạn của những người “thợ làm nguội” (cạo, gọt) làm cho đẹp, mỏng đều. Cuối cùng người “thợ nung” bắt đầu đốt lò. Lúc đầu lửa sơ sơ , vừa chất vào thứ tự từng lớp, hết lớp này đến lớp khác cho đến khi lớp dưới đã khá cứng và không thể bị vỡ vì sức nặng của các lớp trên. Cứ thế cho đến khi đầy lò, bây giờ người “thợ nung” lấy những mảnh vỡ om, trách đậy lên trên và bắt đầu nung. Những khúc củi lớn được đưa vào ở miệng lò phía dưới. Hơi nóng tỏa ra rất mạnh. Vì vậy người ta thường bắt đầu nung vào buổi chiều tối, hay trong những ngày khá lạnh. Những bữa ăn hàng lỡ đêm khuya, được nghe kể chuyện cha ông ta ngày trước (thỉnh thoảng tôi thường ra xem và nghe vì cha tôi làm công việc này) thật thú vị biết bao! Những bữa ăn hàng lỡ thường là cháo bột, cháo gà hoặc chè …Bà con thường đến gởi muối sống nhờ nung. Phải nói rằng muối ăn được nung ở lò rất thích. Khi ngọn lửa bốc lên ở miệng lò có màu xanh (khoảng 1 ngày). Bây giờ người ta mới ngừng đốt và dùng đất, gạch trám miệng lò. Được hai, ba ngày sau lò nguội người ta mới có thể lấy ra (từ địa phương gọi là “Rợ lò”. Chúng ta đang nói ở đây là nung sản phẩm gốm ở (Lò Ngã).

 

        Tính ra từ lúc ban đầu đến khi cho ra sản phẩm cũng phải trải qua một tuần lễ. Để có củi đốt lò, những người thợ đi lấy củi phải vượt thác băng rừng, phải lên tận Thác Ma, Huỳnh Liên, Khe Mương, Trầm Sơn v.v…. thường vận chuyển bằng đò, do những lao động khỏe mạnh, chèo lái giỏi. Củi được “kết bè” về và cập bến ở khu vực Bến Lò (ở xóm Cừa). Củi được “Tệt” ra từng đốt khoảng 1 mét để dễ đun, củi đem về được xếp thành từng chồng khá cao ở khu vực quanh Lò Gốm để phơi cho khô.

 

        Sản phẩm gốm làm ra được vận chuyển chủ yếu bằng thuyền (đò). Từ Bến Lò xuất phát đi nhiều nơi ở các vùng thuộc Quảng Trị, Thừa Thiên Huế như: chợ Cầu, chợ Kệ, chợ Ngô Xá, chợ Huyện, chợ Bao Vinh, Hương Cần, hoặc vượt phá Tam Giang về vùng Ngũ Điền (Đại Lộc, Kế Môn, Điền Hải, Bến Đò, Chợ Tu …). Đặc biệt gốm Phước Tích đã từng cung cấp cho các vua triều Nguyễn mỗi năm 2 kỳ (mỗi kỳ khoảng 400 cái om ngự) để nấu cơm cho nhà vua.

 

        Nhớ lại mỗi lần đến phiên “Rợ lò”, quang cảnh thật là nhộn nhịp, vui vẻ biết bao! Cảnh dưới bến, thuyền bè chiếc đậu, chiếc đi. Trên bộ, kẻ bán người mua lui tới tấp nập, nhộn nhịp quanh năm. Đôi khi trai bạn ham mua bán đến ngày mồng một Tết chưa về đến nhà nên thơ ca dân gian làng tôi có những câu rất hay, còn truyền miệng cho đến bây giờ.

 

     - Lời người con gái:

 

               “Chiều ba mươi anh không đi Tết
               Rạng mồng một anh chẳng đoái tới bàn thờ
               Hiếu trung chi anh rứa
               Mà bắt em chờ cho uổng công”
 

    - Lời người con trai:

 

               “Ngày hai chín anh chợ Cần, chợ Kệ
               Ngày ba mươi anh Thủ Lễ, Hà Lang
               Rạng ngày mồng một vượt phá Tam Giang
               Hiếu trung bên anh anh, nhờ thầy mẹ
               Huống chi bên “nường” – “nường ơi”
 

        Sản phẩm gốm bán ra, hình thức thanh toán chủ yếu là trao đổi lúa gạo, nông phẩm khô, hoặc bằng tiền mặt. Vận chuyển đi bán chủ yếu bằng thuyền, nếu ở gần thì gánh đến tận nhà. Vì vậy thời kỳ này hầu như ở mọi nơi, mọi người đều dùng gốm Phước Tích.

 

         Nguồn thu nhập chính của dân Phước Tích lúc bấy giờ chủ yếu từ gốm, vườn tược cha ông ta thường nhắc con cháu “lóc xóc không bằng góc vườn” ( ý nói thu nhập kinh tế từ vườn rất đáng kể), các nghề phụ như ép dầu, bổ cau, làm tương, lập vườn, trồng cây .

 

        - Dân Phước Tích sớm có ý thức làm việc theo tập thể, ngày xưa ở các xóm đều có lò nung, vào 3 gia đình hợp sức với nhau để làm – gọi là “xâu”, xóm Bến Cạn tôi có 2 lò, các xóm khác cũng có nhiều.

 

        Sản phẩm bán ra một phần chi phí cho sinh hoạt hằng ngày, việc chi tiêu rất tằn tiện. Một số nhà giàu còn mua thóc, lúa, đậu, mè dự trữ để bán lúc giáp hạt. Ngoài ra còn cho mượn, cho vay đối với bà con trong làng và các làng khác. Mặt khác còn chu cấp cho con cái học hành. Vì vậy con em trong làng được đầu tư ăn học đến nơi đến chốn, thành đạt ra làm quan, nhiều Bác sĩ, Kỹ sư, Nhạc sĩ, Giáo viên các cấp, Tiến sĩ, phó Tiến sĩ khá nhiều và nổi tiếng, đã đóng góp cho quê hương, đất nước những thành quả đáng trân trọng. Và đặc biệt là lúc bấy giờ xuất hiện nhiều nhà rường loại 3 gian 2 chái khoảng 80 cái, nhà 1 gian 2 chái khoảng 50 cái. Hiện tại còn 32 cái (cả 2 loại) do bị hư hỏng, do mối mọt, chiến tranh. Vì vậy trong dân gian có câu “Ba phủ, chín chu không khỏi cái lu, cái đôộc”.

 

        Nghề gốm Phước Tích được truyền từ Nghệ An vào, cùng một lúc với cuộc Nam tiến của dân tộc ta từ những năm trước 1470 (thời vua Lê Thánh Tông) do công của Ngài khai canh Phó tướng Hoàng Minh Hùng. Được vua cử đi đánh quân Chiêm Thành, thường hay quấy nhiễu nước ta. Ngài đã đi khắp nơi, lội suối băng rừng để tìm đất lập nghiệp. Đi đến xứ Cồn Dương, Ngài xem địa thế, phong thủy ở đây có thể lập nghiệp và định cư lâu dài, nên Ngài đã ra quê (làng Cảm Quyết, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An để rủ thêm 11 họ cùng vào lập nghiệp. Đó là các Họ: Đoàn, Hồ, Lê Trọng, Lê Ngọc, Lương Thanh, Nguyễn Duy, Nguyễn Bá, Nguyễn Phước, Phan Công, Trần Ngọc, Trương Công.

 

        Ở Làng Phước Tích có đền thờ riêng cho 2 Ngài có công lớn đối với Làng. Đó là Miếu Đôi (gọi là Miếu Đôi vì ở đây thờ 2 Ngài: Ngài khai canh (người sáng lập Làng) và Ngài Bổn nghệ (tổ của Nghề gốm)). Với dụng cụ thô sơ, vốn liếng ít ỏi, dân làng vẫn đều đặn làm ra sản phẩm bằng cách cải tiến kỹ thuật như làm gốm tráng men, làm đồ sứ, đã mời các chuyên gia về xây dựng Lò Bầu, Lò Bao, Lò Sứ. Cử người đi học ở các cơ sở gốm nổi tiếng trong Nam, ngoài Bắc như ở Lái Thiêu (Bình Dương), Hương Canh (Hải Dương) để làm gốm tráng men, lu, khạp, chén bát. Nhưng cuối cùng đều bị thất bại vì không cạnh tranh nổi với hàng ngoại nhập (đặc biệt là từ Trung Quốc sang), cộng thêm vào đó thời kỳ này mặt hàng nhôm nhựa rất thịnh hành.

 

        Dân Phước Tích với bản tính cần cù, chịu khó, vẫn kiên trì trong những lúc khó khăn nhất vẫn sản xuất. Trong kháng chiến chống Pháp dân sơ tán vào xóm Cọ (Mỹ Xuyên); hoặc về Văn Trị (Hải Lăng, Quảng Trị) vẫn xây lò lập tập đoàn sản xuất gốm. Người Phước Tích thích sống tự lập, vững tin ở tương lai, luôn tin ở sức mình, không nản chí … Đặc biệt là khó khăn đến mấy vẫn đầu tư cho con em ăn học nên người.

 

        Sau ngày giải phóng miền Nam (30/04/1975); giai đoạn từ năm 1976 đến 1986 được nhà nước đầu tư, gốm Phước Tích vẫn còn bán chạy, khá phát triển, dân có công ăn việc làm, thu nhập ổn định.

 

        Khi HTX gốm giải thể năm 1989, do làm ăn thua lỗ nên UBND Huyện Phong Điền đã có quyết định giải thể gốm Phước Tích. Từ đó con em trong làng chủ yếu đi Nam để tìm kế mưu sinh, lập nghiệp.

 

        Vậy là hơn 5 thế kỷ tồn tại, phồn vinh đã nuôi sống dân làng, quê hương giàu có đã không tồn tại nữa. Nhưng sau đó có nghệ nhân Lương Thanh Cồ (Táo) một mình cụ vẫn xây lò, lửa lò vẫn đỏ, vẫn sản xuất gốm để đem đi bán ở các làng thuộc huyện Phong Điền và Hải Lăng. Đến năm 2000 cụ ngừng hoạt động vì sức khỏe.

 

        Giai đoạn sau khi HTX gốm giải thể, số dân còn lại ở Làng đã chuyển đổi ngành nghề - nhiều thợ đã xuất hiện như: thợ mộc, thợ nề, làm bún, bánh … để tự nuôi sống gia đình và giúp con ăn học.

 

        Trải qua nhiều thế kỷ, Tiền Nhân đã có công tạo dựng, để lại cho chúng ta một gia tài đồ sộ về cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, về truyền thống yêu nước, yêu quê hương, lòng nhân ái, thủy chung, đoàn kết, tinh thần hiếu học, cần cù, sáng tạo. Nghề gốm cổ truyền rất quí giá. Chúng ta là hậu thế phải biết khắc sâu và nhớ công ơn lớn lao đó là để duy trì và phát huy.

 

        Giờ đây nhìn lại những ngôi Nhà Lò còn sót lại ở khu vực Xóm Cừa, gần Bến Lò, nằm chơ vơ, cây cỏ mọc um tùm. Đi qua đây, ai mà chẳng chạnh lòng cho một thời quá khứ vàng son, hưng thịnh của gốm. “Nhà Lò” nói riêng và “Gốm Cổ Truyền” nói chung chỉ còn là hoài niệm!

 

        Đến năm 2009, Làng được công nhận Làng Di tích – Kiến trúc – Nghệ thuật cấp Quốc Gia (làng cổ thứ hai của cả nước sau Làng cổ Đường Lâm Hà Nội). Có được điều này là do sự quan tâm của quí cấp lãnh đạo từ Trung ương đến Địa phương. Chúng ta cũng không quên công ơn to lớn của GS-TS-KTS Hoàng Đạo Kính người đã phát hiện, vận động chính quyền các cấp, Bộ - Sở VH-TT-DL, Chính Phủ sớm công nhận Phước Tích là Làng Cổ. Kể từ ngày Làng Cổ Phước Tích ra đời, Làng có nhiều sự quan tâm đầu tư của quí cấp lãnh đạo, Tổ chức Jica (Nhật), Vicat (Bỉ), Trường ĐH Nghệ thuật Huế đã xây dựng cơ sở hạ tầng như: đường sá, kè dọc bờ sông, tu sửa các nhà rường như nhà của anh Trương Duy Thanh, bà Lương Thanh Thị Hén …, xây dựng 2 Lò nung ga (gốm mới), 1 “Lò Cóc” (Gốm Cổ Truyền). Và đã cử người đi học ở gốm Bát Tràng, nhưng tất cả chủ yếu là để phục vụ Festival “Hương Xưa Làng Cổ”.

 

        Ngoài ra, còn mở các lớp đào tạo ngắn ngày về gốm cho con em trong làng (học làm sản phẩm gốm mới). Tuy nhiên gốm mới bây giờ chỉ còn hai người làm, nên rất hạn chế cho việc phát triển lâu dài, bền vững.

 

        Về gốm cổ truyền, các nghệ nhân lớn tuổi đã lần lượt ra đi về cõi vĩnh hằng, thợ chuốt chỉ còn lại 1 nghệ nhân còn làm được đó là bà Lương Thị Bê (đã hơn 75 tuổi), thợ xên còn khoảng 2-3 người, “thợ làm nguội” 3 người, “thợ nung lò” 2 người, tất cả cũng đều quá 70 tuổi. Với tình trạng trên, nếu không có kế hoạch đào tạo sẽ bị thất truyền.

 

        Rất mong sự quan tâm của chính quyền các cấp; Ban Quản lý Làng Cổ có kế hoạch xây dựng, chỉ đạo trong quá trình sản xuất đồ gốm. Đặc biệt là mở lớp đào tạo “thợ chuốt” cho con em trong Làng.

 

        Việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho gốm cổ truyền Phước Tích, cải tạo một số địa điểm để khách tham quan có nhiều chỗ để ăn ở và nghỉ lại qua đêm, và càng ngày càng có nhiều khách du lịch, bà con về thăm quê hương chúng ta.

 

        Là con dân của Làng, chúng tôi xin hứa sẽ cùng Làng, Lãnh Đạo các cấp cùng chung sức xây dựng Làng cổ Phước Tích ngày càng tươi đẹp hơn, có nhiều khởi sắc hơn nữa.

 

   

 Làng Cổ Phước Tích, ngày 31 tháng 12 năm 2013

 

 

 Hồ Văn Thái

 

 (Ủy viên phụ trách Văn hóa Làng cổ Phước Tích)

       
Phụ chú :
 
 * Bài viết có sử dụng tư liệu số liệu và tham khảo ý kiến của :
        - Các vị cao niên trong Làng
        - Anh Hoàng Tấn Minh: Trưởng thôn

        - Bác Nguyễn Duy Vui: TBTT Làng cổ Phước Tích

        - Ông Hồ Thanh Yên: Cán bộ Hưu trí.

Scroll To Top