Đang tải...

Bến Vạn ngày xưa - Trương Thế Kỷ

Xuất phát từ Cây Thị cổ có hai kiệt xóm . Kiệt xóm từ cây Thị qua nhà thờ họ Nguyễn Duy ra bờ sông là Bến 
 Xuất phát từ Cây Thị cổ có hai kiệt xóm . Kiệt xóm từ cây Thị qua nhà thờ họ Nguyễn Duy ra bờ sông đó là Bến Vạn ngày xưa, vì trước năm 1947 có một Vạn Chài đông đúc sinh sống ở đây. Bến nước có tên gọi Bến Vạn là vì lẽ đó. Vạn Chài gồm một nhóm cư dân bản địa gốc Tiền Việt, chuyên nghề chài lưới trên sông, sinh hoạt riêng lẻ, chỉ giao tiếp với cư dân quanh vùng qua mỗi một việc trao đổi cá tôm lấy tiền đong gạo và các thực phẩm cần thiết hằng ngày. Từ Bến Vạn nhìn sang phía Hội Kỳ thì Vạn Chài nằm bên phải.
      Mỗi gia đình Vạn Chài sống trên những chiếc đò có  mui che. Công việc hằng ngày của dân Vạn Chài là câu cá, cất rớ, thả lưới  bủa câu, đánh chuôm.đánh dậm. Vào buổi sáng tinh mơ, khi mặt nước còn lơ lững màn sương, trên Bến Vạn vang tiếng “lênh kênh” xua đuổi cá vọng ra từ hai thanh gỗ va đập vào nhau trên chiếc chiếc nốoc không mui, sau đó chiếc rớ trên nôóc to hơn từ từ được cất lên. Những con cá tung tăng nhảy nhót và co rúm lại trong lồng rớ. Khi mặt trời đã tỏa nắng trên toàn mặt sông, dân Vạn dùng sáo vây bủa chung quanh đống chuôm, dở chuôm, dùng chiếc nia to vớt cá con, tôm đất sống trong chuôm lâu ngày. Trưa đến bà con Vạn Chài mang tôm cá bắt được lên bờ vào các xóm trao đổi lấy tiền hoặc các vật dụng hằng ngày.

       Bà con kiệt xóm Bến Vạn sống chan hòa thân mật với dân cư Vạn Chài. Làng Phước Tích cho Vạn Chài sử dụng một khoảng đất rộng trên bờ để phơi rớ, đánh chỉ, đan lưới hoặc làm nơi vui đùa của trẻ nhỏ. Hàng tre trên Bến Vạn là nhà kho cất giũ mái chèo, cọc chống, sườn rớ, bách xe đánh chỉ và các vật dụng khác. Lũ trẽ chúng tôi thường xuống chơi đùa, đánh vụ hoặc xin lưỡi câu đoạn chỉ làm cần câu cá , có khi vật lộn với trẻ Vạn Chài trên sông nước.

      Chiều  đến, khi làn khói lơ lững bay trên mui nôóc báo hiệu bữa ăn đạm bạc sắp sữa bắt đầu. Tối về những ngọn đèn le lói, bồng bềnh trên mặt sông kèm theo tiếng khóc í ói của đám con trẻ trước giờ đi ngủ. Bến Vạn rộn ràng từ sáng tinh mơ đến tối mịt đêm về.

      Những con nước tháng ba, tháng bảy âm lịch, lũ lụt kéo về, dân Vạn Chài lênh đênh trên mặt nước. Những chiếc nốoc có mui, không mui được buột chặt tránh lũ vào gốc mít , gốc bưởi tá túc cùng dân cư Bến Vạn. Lụt về,cơ hội bắt đánh cá của Vạn Chài lại đến gần và hứa hẹn mùa bội thu đầy vất vả gian truân. Cuộc sống của cư dân Vạn Chài hoàn toàn phụ thuộc vào con cá com tôm vẩy vùng trong dòng nước. Ngày hè không áo mặc, mùa đông đến cả gia đình cùng chung trong đôi chiếu mõng. Lênh đênh trên mặt nước, phó thác cuộc đời cho thủy thần hà bá không một mảnh đất khi về chín suối.

      Đầu năm 1947, giặc Pháp không cho Vạn Chài sinh sống ở Bến Vạn.. Đò, nôóc, dân cư Vạn Chài xuôi về tá túc tại eo đất làng Mỹ Chánh nơi ngả ba gặp nhau giữa sông Ô Lâu và sông Thác Ma. Nơi định cư mới cũng đầy khó khăn vất vã. Sông nước, con cá,con tôm, bụi chuôm, chiếc rớ, nôóc có mui không mui vẫn theo họ suốt cả cuộc đời.. Những tiếng “lênh kênh” vào sáng tinh mơ không còn vang vọng trên Bến Vạn như ngày nào. Từ đó trở đi tên gọi Bến Vạn bị nhạt nhòa theo năm tháng.

      Ngày trước, dân cư kiệt xóm Bến Vạn sống nhàn nhả phong lưu trông cậy vào nghề làm quan, dạy học, trồng vườn, làm độọc, làm tréc, ép dầu chuồn, bửa cau…Vườn trầu xanh ngắt, những buồng cau sai quả nhờ có nước sông Bến Vạn. Từ Cây Thị đi xuống bến có các gia đình Mợ Tý, Ông Khóa Vững, Ông Thiu, Ông Rơi, Ông Hường Hướng, Ông Lý Ái , Ông Bộ Triết và gia đình chú Lép trong khuôn viên nhà thờ họ Nguyễn Duy. Nhà quan Hường- Hồng Lô Lương Thanh Hướng là niềm tự hào của bà con kiệt xóm Bến Vạn.

      Trong thời kỳ chiến tranh chống Pháp bà con xóm dưới về xóm giữa sinh sống uống nước Bến Vạn, cũng là nơi tụ tập của nhiều đứa trẻ thiếu thời như tôi. Ngày nắng đi làm Trét Om. Chiều xuống Bến Vạn câu cá, tắm sông. Những lúc rỗi rải chia phe đánh trận trốn tìm. Những kỷ niệm thời ấy cú tràn về trong ký ức những ai dã sống trên kiệt xóm nhìn thẳng ra Bến Vạn ngày xưa.

Hón,Hén, Hồi, Hóng, Vàng, Vện, Thược

Hội ngày xưa

Tên mẹ đẽ đặt cho từ  nhỏ

Anh em mình gắn bó biết thương nhau

Bưởi ngọt chua vườn nào cũng hái

Trét  để khô xuống rột  đá banh

Tập  đánh giặc chia thành hai nhóm

Hón trèo cây bị ngả gảy tay

Hóng, Thược sợ mẹ rầy trốn chạy

Thoắt xuống hầm Vàng, Vện cũng biến luôn

Mặt trận vở chúng mình đứa ở đứa đi

Kẻ  ở lại, người thoát ly ra Bắc

Mấy chục năm trời đằng đẵng xa nhau

Ngày hôi ngộ tóc đứa nào cũng bạc

Tuổi cuối đời ôn lại khi xưa

Vẫn nhớ mãi nhớ mãi xóm mình

Cây Thị cổ

Thương Bến Vạn, buồn vui một thuở

Nhớ  bạn bè còn ở …hoặc  đã đi.

      Tp Hồ  Chí Minh ngày 24 Tết Canh Dần.

      ( 07-02-2010)

      Ghi chú: Hón : Nguyễn Duy Mai

            Hén : Nguyễn Duy Cúc

            Hồi : Nguyễn Đình Hồi

            Hóng : Trương Thế Kỷ

Vàng : Lê Ngọc Phương

Vện :  Lê Ngọc Thanh

Thược : Nguyễn Duy Tùng.

Scroll To Top