Đang tải...

Chuyện 12 bến nước của Làng cổ Phước Tích

Sau cơn mưa giông xối xả của một chiều mùa hạ, những hạt mưa thưa thớt sau cùng rôi xuống lả tả trên mặt nước của dòng sông Ô Lâu phẳng lặng. Trên con đường ven sông đang bốc hơi nóng hừng hực. Thế mà không ai bảo ai, chúng tôi đứa nào cũng xách cần câu, mang quần đùi, ở trần chạy ùa xuống các bến để câu cá. Đây là cái thú vui nhất của mùa hè là đi câu cá lúi, cá cấn, cá mại...

          Bọn tôi năm đứa vừa đủ giăng hàng ngang xuống bến Cừa, lội xuống nước chắm đầu gối, thằng nào cũng muốn đưa cần câu ra xa. Trong năm đứa với những cái tên từ lúc cắp sách đến trường đã tự đặt cho nhau: thặng Vọi, thằng Xù, thằng Bí Đao, thằng Ngảu, thằng Đê. Thế là mấy cái phao theo dòng nước trôi nhẹ dần trong bầu không khí hết sức yên tĩnh, không đứa nào nói một câu gì, tất cả đang tập trung và chăm chú nhìn vào cái phao; thế là những con lúi tròn trĩnh, những con cấn háo ăn được kéo lên khỏi mặt nước, có con lúi màu tim tím, miệng kêu chíp chíp, tranh thủ cho vào oi, đứa xâu mang tha hồ vùng vẫy. Thằng Bí Đao vừa đắc chí cười to, vừa nói tôi nay thím tau tha hồ mà nấu canh thơm; thằng Đê thì: mạ tau sẽ nấu canh me, còn thằng Xù lẩm bẩm: tau thích kho tương. Cái món cá lúi kho tương vô cùng khoái khẩu, nhắc lại thấy thèm. Cơm gạo hẻo nấu om đất mà ăn vối cá lúi kho ở trong tréc của gốm Phước Tích thì còn gì ngon hơn nữa.

 

          Nói đến bến Cừa là nơi đầy ắp những kỷ niệm xa xưa của tuổi học trò, nào trò chơi đuổi bắt từ cành này nhảy sang cành khác không thua gì mấy chú khỉ trèo cây, có thằng buổi trưa nhè nhẹ ngồi dưới gốc cừa rình mấy chú chào mào bay đến ăn hột cừa, thế là căng ná nhắm thẳng mấy chùm lông đỏ mà tỉa, một con rơi xuống cả bầy ríu rít bay lên vui lắm không có gì bằng. Cây cừa lại là một điểm xuất phát của những cuộc đua xe vành rổ bao quanh làng, hoặc tập trung sau những trận đá banh làng về đây ngồi hứng ngọn gió nồm và sự êm ả mát mẻ của dòng sông nhẹ nhàng trôi chảy. Bến Cừa là một bến điển hình nhất trong mười hai bến nước của làng tôi nằm chính diện của ngã ba đường làng, lại là nơi tập nập người qua lại, những đêm hẹn hò của tuổi lứa đôi và cũng là cái bến nghĩa tình của những lần đưa tiễn.

 

                   Khi trời ngã bóng chiều hôm

                   Bến Cừa, bến Hội vẫn còn đông vui

                   Có khi đứng lặng ngậm ngùi

                   Đưa người quá cố, bùi ngùi bến sông

                                       (Những bến sông dòng Ô Lâu của Lương Thanh Hồng)
 

          Nói đến nước trong và mát thì không bến nào bằng bến Hội, các cụ xưa thường có những câu hát vần:

 

                   Nước bến Hội vừa trong vừa mát

                   Đường bến Cừa nhỏ cát dễ đi...

                   Bến Hội sâu nhất lang mình

                   Nước sông xanh ngọc in hình tre xanh...

                                           (Bến Hội của Hồ Xuân Lộc)
 

          Bến Cạn lại là nơi tập trung tắm mát khi chiều về, ra giữa dòng, nước mới ngang đầu gối, tha hồ vẫy vùng bơi lội.

 

                   Xa xa, các cụ già, các chị, các anh

                   Đang bặm miệng cọ kỳ mình cho sạch

                   Hoặc lội bơi ngữa nghiêng thôi đủ cách

                   Nước ôm người, người ôm nước miên man.

                                                (Con sông quê hương của cụ Thanh Yên)

 

          Bến Cạn còn một thú vui nữa là là đặt bàn “động Tiên Trúc” để bắt cá bống, chắc chắn mà nói cứ sau một đêm là mỗi cái bàn đưa bàn tay nhẹ nhàng ém chặc là một con cá bống, nào lá bống rằn, bống thệ, bống đao, bống mũ tha hồ mà nấu canh. Tối lại dùng đèn soi đi từ bến Đình xuống hết bến Cạn chỉ trong một tiếng đồng hồ là chúng tôi đã có một nồi cháo, tụ nhau ngồi giữa bến nước ánh trăng trong sau đó, kèm thêm hưong vị ngọt lành cam quýt của các vườn được chúng tôi sưu tầm vừa ăn, vừa nói “chuyện của tuổi học trò, ký ức đong đầy trong tuổi nhớ, làm sao mà chúng tôi quên được. Nói đến bến Lò ngày xưa vô cùng tấp nập, thuyền bè đưa củi đốt từ thượng nguồn vận chuyển về, rồi đò chở hàng lu, đột, om tréc theo dòng sông Ô Lâu ra tận phá Tam Giang, đến các vùng xa để tiêu thụ. Đêm xuống, khi lò bắt đầu nhóm lửa, từ đêm thứ ba khi củi đầy cửa bắt đầu hòng ánh lửa loè lên từ ba lỗ đạo, có lúc lên cao một mét soi sáng cả xóm Lò vui như ngày hội. Người qua, kẻ lại, phe phẩy quạt mo, dưới bến tiếng giặt rửa, tiếng bơi lội nghe xào xạc hoà chung với tiếng gõ mạn thuyền của những chiếc thuyền dân chài bủa lưới bắt cá. Bến Lò vô cùng vui nhộn.

 

                   Có khi canh giữa đêm trường

                   Bến Lò rực sáng cho hường gốm nung

                   Có khi vui sướng trùng phùng

                   Đò đi buôn chuyến về cùng bến sông.

                                                   (Lương Thanh Hồng)
 

Khi lò trám cửa, các cụ thợ lò thong thả xuống bến tắm gội, kỳ mài đẩy lùi bao nhiêu mệt nhọc, vất vả của phiên đốt lò, thoải mái rảo bước về nhà.

 

          Cửa lò sưởi ấm đêm đông

          Bến Lò gội rửa bụi trần gian truân.

          ... Khói lò phe phẩy lưng trời

          Hân hoan chào đón mọi người thăm quê.

                                      (Phước Tích quê tôi - cụ Đoàn Văn Nghệ)
 

Bến nước của làng Phước Tích vô cùng ý nghĩa, thiết thực cho đời sống của dân làng.

 

          Rộn rập bến Cừa, bến Cạn, bến Vạn, bến Cầu.

 

          Qua thời gian, khi nghề gốm bị mai một, dân làng phần đông phải xa quê tìm kế mưu sinh, rồi các bến nước cũng dần dần hoang vắng bóng người. Nỗi lòng người đi kẻ ở, đã nói lên một nỗi buồn da diết, trong cái lưu luyến với bến nước dòng sông đã một thời gắn bó với tình làng nghĩa xóm, ta thấy hiện lên một nỗi buồn man mát khó quên.

 

          Phải chăng, ngày xưa Tổ tiên, ông bà của chúng ta muốn vấn vít con cháu nơi nghĩa tình của mười hai bến nước, không muốn con cháu lấy chồng xa quê mà phải giữ lại cái nghề vô cùng quý giá với những bàn tay khéo léo của các O, các chị, các dì, hai tay mềm mại uốn nắn từ cục đất mà đã sinh sôi nảy nở biết bao nhiêu nhân tài của nam thanh nữ tú đi khắp đó đây và những nhà rường mái đỏ, sân gạch, bình phong, bể cạn, lu mái đầy cau, tương ớt đầy hủ, muối ruốc thóng to thóng nhỏ, khế xâm đầy vại ôi cả một thời cực thịnh của dân làng.

Bà con ta cũng thường nói: phận con gái như mười hai bến nước, trong nhờ, đục chịu, muốn ôm lấy nghề trong tình yêu thương ấp ủ để dựa dẫm vào nhau.

                   Đi mô cho ngái cho xa

                   Lui về lấy vợ ở làng là hơn

                   Lấy vợ ở làng như vàng treo cựa ngọ

Cụ Khoá Hậu với bài thơ “Mừng hai cháu”, trai họ Lương lấy gái họ Lê, bốn câu cuối:

          Sinh trai đã sánh bày tai mắt

          Có cháu còn mong mở mặt mày

          Thơ thưởng vợ chồng ngày phát triển

          Vàng treo trước ngõ, ngõ sau này...

Nếu tính theo thứ tự của mười hai bến nước là: bến Hội, bến Lò, bến Cừa, bến Bàng, bến Đình, bến Cạn, bến Vạn, bến Cây Thị, bến Miếu Vua, bến Cầu, bến Đuồi, bến Chùa.

          Đến hôm nay, qua công trình hàng kè chống sạt lở đã vùi lấp 3 bến: bến Lò, bến Miếu Vua, bến Cầu.

          Để hội đủ mười hai bến nước cho làng cổ Phước Tích đúng với truyền thống của dân làng, Ban quản lý kiến trúc nghệ thuật làng cổ Phước Tích đã mở một buổi họp và mời đầy đủ các ban ngành,: Sở văn hoá- Thể thao và Du lịch Thừa Thiên Huế; Sở bảo tồn, bảo tàng, di tích lịch sử, Ban đầu tư huyện Phong Điền, UBND xã Phong Hoà, Ban dự án công trình hàng kè, Ban thường trực làng cổ Phước Tích, ban điều hành và ban mặt trận thôn Phước Phú, đã thống nhất trong buổi họp, lập biên bản cũng như nội dung phát biểu của ông Hoàng Vĩnh Lộc- chủ đầu tư và ban giám sát công trình của hai bên đã thống nhất sẽ tái tạo xây dựng ba bến nước, kể cả con đường xuống bến Miếu Vua và bến Cầu mở rộng như ngày xưa và lát gạch để bà con đi lại sinh hoạt dễ dàng.

          Một thời đã đi qua với ký ức tuổi thơ đầy ắp những kỷ niệm, đến hôm nay đã bảy mươi tuổi đời, xin ghi lại với nỗi lòng thương mến quê hương. Tuy chưa nói hết, song cùng các bạn hãy hâm nóng lại để nhìn về một thời mà thương mà nhớ. Xin một lần hội ngộ để ôn lại kỷ niệm của tuổi thơ./.

Phước Tích, tháng 12- 2013

       Lương Vĩnh Viễn
Scroll To Top