Đang tải...

Có một Trường Tiểu Học ở làng Phước Tích

Con em dân làng Phước Tích có truyền thống hiếu học, ham thích tìm “con chữ” để nâng cao giá trị làm người, giá trị cuộc sống dầu bất kỳ hoàn cảnh nào. Làng Phước Tích có nhiều Ông Đốc, Ông Trợ, Ông Hường, Ông Huyện, Ông Nghè cũng vì lẽ đời: lẽ hiếu học, lẽ cần mẫn siêng năng, lẽ quyết không khuất phực với dốt nát thua em kém chị và lẽ học để phục vụ cho đời. Phước Tích được mệnh danh “Làng Văn Học”.

Trương Thế Kỷ, Hoàng Trạch Thạnh

 

     Con em dân làng Phước Tích có truyền thống hiếu học, ham thích tìm “con chữ” để nâng cao giá trị làm người, giá trị cuộc sống dầu bất kỳ hoàn cảnh nào. Làng Phước Tích có nhiều Ông Đốc, Ông Trợ, Ông Hường, Ông Huyện, Ông Nghè cũng vì lẽ đời: lẽ hiếu học, lẽ cần mẫn siêng năng, lẽ quyết không khuất phực với dốt nát thua em kém chị và lẽ học để phục vụ cho đời. Phước Tích được mệnh danh “Làng Văn Học”.

 

     Trước năm 1945 con em dân làng học trường Tổng ở Mỹ Xuyên, trường Huyện ở Ưu điềm hay Mỹ Chánh và học cao hơn thì vào Huế. Thanh niên trong làng phần lớn là các sĩ tử. Thầy Bùi Quang Hy mở lớp luyện thi tại nhà đầu Xóm Hội cho các sĩ tử thi Tiểu Học. Những ngày hè ít ỏi, anh Hoàng Trạch Anh (Hoàng Minh Tuấn) mở lớp học hè bồi dưỡng kiến thức cho các sĩ tử đang học Nhất Niên, Nhị Niên như Nguyễn Đình Thành, Nguyễn Đình Phấn, Lương Á Thưởng và nhiều anh chị khác… Có anh Ngô Vân Thu em Thầy Ngô Vân Trình rễ Ông Bộ Lạng từ làng Vĩnh An cũng về dây học tập. Đây cũng là nơi các thanh niên làng ta trao đổi giác ngộ về lòng yên nước và tiếp cận vời bao điều mới mẽ đang diễn ra.

 

     Những năm 1945-1946 phong trào “Bình dân học vụ” đã khơi dậy tinh thần “thoát nạn mù chữ” cho các ôong các mụ, các anh các chị không có điều kiện học hành như con em các gia đình khá giả. Nhiều lớp học “Binh dân học vụ” sáng đèn tại các nhà Mụ Nghè Ngữ’, nhà Ông Xạ Út”, nhà ông Gà Duật. Xóm Dưới, Xóm Giũa, Xóm Ngoài đều có lớp “Binh dân học vụ”. Một thế hệ thầy giáo “Người biết chữ dạy người chưa biết” như Lê Trọng Sâm, Lê Trọng Đôn, Lê Trọng Thấu, Lương Á Thưởng, Nguyễn Đình Phấn, Hồ Thanh Yên, Nguyễn Đình Hói, Lê Trong Dĩ, Lê Trọng Thố, Lê Trọng Thông, Nguyễn Bá Hân, Lê Trọng Đãi, Lê Trọng Sính, Lê Trọng Bộ, Nguyễn Đình Thành, Lương Á Ngoãn, Đoàn Văn Áng…được tập hợp làm nhiệm vụ O tròn như quả trứng gà, Ô thời đội nón, Ơ dài thêm râu. Chị Trương Thị Lụt, chị ruột tôi, nhờ phong trào “Binh dân học vụ” đã biết đọc biết viết, khai sáng chữ “tâm” để bươn chải với đời.

 

     Phải đương đầu với chiến tranh chống Pháp. Cuối năm 1946, Trường Tổng, Trường Huyện đều đóng cửa. Con em trong làng bị thất học. Thế là, nhiều lớp học “tại gia” được hình thành. Thầy Sữ Liễn mở lớp học “vỡ lòng”. Phần lớn “con nít” trong làng được Thầy Sữ Liễn khai chữ. Thầy Nguyễn Đình Hói, kê bàn kê ghế, dạy học trò tập làm toán, tập viết chính tả trình độ lớp Năm, lớp Tư, lớp Ba. Thầy Lê Trọng Thuyên mở lớp dạy học tại nhà Ông Ngoại (Ông Bộ Lạng). Lớp học đơn sơ, kê thêm chiếc ghế dài bên cái rương làm bàn học. Tôi (Trương Thế Kỷ), Lê Ngọc Giáng, Lương Thanh Chúc và mấy bạn từ Phú Xuân đã học ở đây mấy tháng. Thầy Lê Trọng Sũng mở lớp tại nhà Quan Hường Hướng. Trời nắng hay mưa thầy Lê Trọng Sũng với áo dài đen vẫn đến lớp đúng giờ. Thầy Hồ Thanh Yên dành căn nhà phía trước mở 3 lớp học, lớp Tư (Cours Préparatoire), lớp Ba (Cours Élémentaire) vá lớp Nhì (Cours Moyen). Tôi học lớp Ba. Các thầy dạy tại nhà thầy Hồ Thanh Yên có thầy Lê Trọng Thấu và thầy Lê Trọng Dĩ. Con em trong làng có trình độ từ lớp Tư trở lên đều tụ tập về đây. Không những con em trong làng, con em ở làng Phú Xuân cũng vào đây học. Lớp học không có tiếng trống, nhưng học sinh vào lớp rất đúng giờ. Giờ tập vẽ, thầy đặt cái om trên bàn, cả lớp chúng tôi lấy bút chì đặt ngang tầm mắt hướng về cái om lấy cự ly xác định tỷ lệ để đánh bóng tô màu. Giờ thủ công, trò Phan Anh cắt hình bông sen dán vào vở. Thầy khen. Cả lớp chúng tôi nhìn xem ngưỡng mộ. Giờ ra chơi, chúng tôi đánh vụ, đánh bi, đánh đáo hay chia phe đánh trận. Nguyễn Đình Tặng là học trò đánh bi, đánh đáo giỏi nhất. Lê Trong Ích thua cuộc đánh đáo phải cõng Nguyễn Đình Tặng trên lưng. Tôi tham gia đánh trận, bị rách áo, trò Lê Trọng Thị Huê mượn kim chỉ khâu vá giúp giữa bao đôi mắt tinh nghịch trêu đùa. Sự học trong làng đã đến tai Ông Đồn trưởng người Pháp ở Mỹ Chánh và sự chú ý quan tâm của chính quyền Việt Minh ở xã Phong Lâu. Có lần Ông Đồn trưởng người Pháp đến thăm. Các Thầy nói tiêng Tây, Ông Đồn trưởng thán phục. Chúng tôi dấu những quyển vở công dân giáo dục dưới hốc bàn.

 

     Cuộc chiến tranh chống Pháp đang ở thế cài răng lược. Làng Phước Tích có lý trưởng. Ban ngày phải đối mặt khi Tây qua lùng sục bắt bớ. Ban đêm các đoàn thể Việt Minh hội họp. Cán bộ xã, huyện về làng tuyên truyền cách mạng. Om tréc Phươc Tích hòa quyện với học hành làm cho dân làng vơi đi những gian khổ đau thương vì thiếu ăn thiếu mặc và súng đạn giáo gươm.

 

     Vùng tự do của kháng chiến do Việt Minh kiểm soát ngày càng mở rộng. Phong trào học văn hóa theo chương trình kháng chiến phát triển. Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Thừa Thiên quyết định mở các trường Tiểu Học, trường Trung Học tại các xã Phong Lâu, Phong Chương thuộc huyện Phong Điền. Trường Tiểu Học tại làng Phước Tích được thành lập do thầy Nguyễn Đình Hói làm Hiệu trưởng. Trường học được xây dựng tại Đình Trung. Ngôi trường bằng tranh vách tre trát đất trộn rơm có 4 phòng học. Ngăn cách giữa các phòng bằng phên tre. Năm 1947 Đình Trung bị đốt còn lại nền Đình và những đống gạch, ngói vở mụn. Trường nằm dọc theo góc trái sân Đình (sát với mãnh đất nhà Ông Nghẽ Ngữ). Đầu năm 1949 trường khai giảng. Thầy Nguyễn Đình Hói dạy lớp Năm (Cours Enfantin), thầy Lê Trọng Dĩ dạy lớp Tư (Cours Préparatoire), thầy Lê Trong Thấu dạy lớp Ba (Cours Élémentaire), thầy Hồ Thanh Yên dạy kiêm 2 lớp: lớp Nhì (Cours Moyen) và lớp Nhất (Cours Supérieur). Thầy Thấu lên đường kháng chiến gia nhập Vệ Quốc Đoàn, thầy Trương Công Phước thay thầy Lê Trong Thấu dạy lớp Ba. Buổi khai giảng tiến hành lúc chạng vạng tối. Ông Lê Đình Cầu, Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính xã; Ông Đoàn Văn Các, ủy viên Mặt trận Liên Việt xã và anh Nguyễn Văn Lều tổ trưởng Thông tin Tuyên truyền xã Phong Lâu đến dự. Chúng tôi sắp hàng ngay ngắn chào cơ và hát Quốc ca. Ông Chủ tịch đọc quyết định “Thành lập trường Tiểu học Phước Tích” của Ủy ban Kháng chiến Hành chính tỉnh Thừa Thiên và phát biểu căn dặn Thầy,Trò chúng tôi. Ông Đoàn Văn Cát tự hào có Trường Tiểu Học đầu tiên ở làng Phước Tích. Các lớp học tư gia không còn nữa. Con em Phước Tích, Phú Xuân, Mỹ Xuyên tề tựu dưới mái trường tranh vách đất sát bên giòng Ô Lâu nhẹ nhàng trôi. Trường không thu học phí. Lương của các Thầy là mấy chục cân gạo và mấy đồng tiền Tài Chính của Nhà Nước Việt Nam Dân Chủ Cọng Hòa.

 

     Lúc đầu, tôi (Trương Thế Kỷ) học lớp Ba, do học giỏi nên các thầy cất nhắc cho lên học lớp Nhì cùng Lương Thanh Thử, Lê Ngọc Giáng, Hoàng Trạch Thạnh ngồi chung với các anh lớp Nhất: Lê Ngọc Khởi, Trương Duy Hy, Lê Trong Ích, Hồ Văn Liên, Bùi Quang Lâm, Nguyễn Đình Tặng. Bài giảng của các Thầy đều dựa theo chương trình của Bộ Quốc Gia Giáo Dục ban hành sau khi Cách Mạng Tháng 8 thành công. Lớp Nhì và Lớp Nhất cùng học chung môn Giáo duc Công dân và Lịch sữ. Ngoài các môn chính Toán, Văn, Sữ, Địa, Giáo dục công dân và Khoa học thường thúc, chúng tôi còn được nghe thêm thơ ngụ ngôn La Fontaine, các tác phẩm dịch của Hà Mai Anh “Tâm hồn cao thượng”(Les grands coeurs của văn hào Ý EDMOND DE AMICIS) và đọc thơ văn  “Tự lực văn đoàn”. Chúng tôi thích thơ của Xuân Diệu, Huy Cận và bình luận về tiểu thuyết “Nửa Chừng Xuân”,” Đoạn Tuyệt” của Khái Hưng, Nhất Linh. Thầy Hồ Thanh Yên đọc và phân tích rất truyền cảm, khêu gợi, giáo dục tình làng nghĩa xóm, đạo đức gia đình và lòng yêu nước thiết tha.

 

     Sân Đình là sân trường. Các lớp phân nhau quét dọn mỗi buổi sáng. Giờ ra chơi rộn rã tiếng cười. Đánh vụ, đánh bi, đánh đáo, đánh khăng là những trò chơi vui thích của lũ trẻ chúng tôi hồi đó. Trương Thế Kỷ, Hoàng Trạch Trường thi nhau đánh vụ Lương Thanh Dưỡng chi chit các vết đinh và vụ vở làm đôi. Lương Thanh Dưỡng tức tối tìm cách lấy vụ của Trương Thế Kỷ quẳng xuống sông. Những ngày nghỉ các bạn ở Phú Xuân dắt chúng tôi ra chơi và trao đổi về triết lý Công Giáo hay ăn quit có trong vườn Nhà Thờ .

 

     Cứ sáng sớm, Nguyễn Duy Tùng ngồi trước thềm nhà học thuộc lòng bài “Nụ tầm xuân”:

 

“Trèo lên cây bưởi hái hoa,

Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân.

Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,

Em có chồng anh tiếc lắm thay!

 

còn tôi học thuộc bài thơ “ Nhớ rừng” của Thế Lữ:

 

Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt,
Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua,
Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ,
Giương mắt bé diễu oai linh rừng thẳm,
Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm,
Để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi.
Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi,
Với cặp báo chuồng bên vô tư lự.
…………………………………….
 

     Cuối Thu 1949, lớp Nhất chuẩn bị thi tốt nghiệp. Học sinh lớp Nhì được các Thầy cấp tốc bồi dưỡng cho đi thi Tiểu Học đợt này. Sáng sớm, tôi xuống nhà Lê Ngọc Giáng. Ông Dạc (thân phụ của Lê Ngọc Giáng) cho hai chúng tôi ăn cơm và mang theo cơm trưa nhồi trong mo cau. Hai chúng tôi ra nhà Hoàng Trạch Thạnh và cùng nhau đi về làng Chí Long xã Phong Chương. Tám giờ sáng tất cả chúng tôi gồm có Trương Duy Hy, Lê Trong Ích, Lương Thanh Thử, Hồ Văn Liên, Lê Ngọc Giáng, Bùi Quang Lâm, Trương Thế Kỷ và Hoàng Trạch Thạnh đã có mặt trước sân đình làng Chí Long. Nguyễn Đình Tặng đã lên chiến khu gia nhập Thiếu Sinh Quân nên không có mặt trong kỳ thi. Các Thày đi cùng chúng tôi có thầy Hồ Thanh Yên, thầy Nguyễn Đình Hói và thầy Lê Trọng Dĩ. Kỳ thi tốt nghiệp Tiểu Học do Ty Giáo dục Thừa Thiên tổ chức. Khoảng chừng trên 100 học sinh dự thi. Có ba môn thi: Toán,Văn và Sữ. Trong phòng thi tôi ngồi phía ngoài, nhìn ra thấy các Thầy của mình sốt ruột lo lắng. Đề thi môn Văn: “Tả cảnh mùa gặt tại quê nhá’. Đề thi môn sữ về Cách Mang Tháng Tám thành công. Đề thi môn toán có 2 phần hình học và số học. Tính diện tích hình thang, phép công phân số 1/2+1/4+2/3 và 2 câu đo lường đổi gam thành kilogam và đổi lít thành centilit. Phòng thi của tôi có Anh Lê Trong Sâm làm giám thị. Anh Hoàng Trạch Dung là giám thị hành lang ở phòng thi của anh Hoàng Trạch Thạnh. Làm xong bài thi, ai cũng dơ tay báo hiệu với các Thầy “làm được bài”. Chiều chúng tôi ra về đến làng vừa kịp tối.

 

     Một buổi chiều, tôi đang dắm tréc tại nhà, thầy Hồ Thanh Yên báo tin : Trương Thế Kỷ và 7 học sinh làng ta đã đỗ Tiểu Học (Primaire). Tôi xếp vá, vòong đi bao tin mừng cho các bạn. Vài hôm sau chúng tôi xuống đình làng Phú Nông dự lễ tốt nghiệp và phát phần thưởng. Ông Lê Tư, cán bộ Ủy Ban Kháng Chiến Hành Chính tỉnh Thừa Thiên tuyên bố danh sách học sinh đổ Tiểu Học. Ông Tư khen ngợi học sinh Tường Tiểu Học Phước Tích đỗ 100%. Thày trò chúng tôi mừng rỡ tự hào. Phần thưởng là những chiếc mũ hay túi xách bằng sợi bàng sản phẩm của làng Phò Trạch Đệm.

 

     Giữa năm 1950, Phước Tích rào làng kháng chiến. Hàng rào kháng chiến kéo dài dọc bờ sông từ Bến Ông Trử qua Đình Trung đến Miếu Đôi. Hàng rào kháng chiến chia làng Phước Tích thành từng lớp. Lớp Thứ Nhất từ bến Ông Trử qua nhà Ông Kiểm Thơ đến Hà Con vòng qua Chùa đến Phú Xuân ra tận bờ sông. Lớp Thứ Hai từ Hà, dọc theo hàng tre sau vườn nhà Ông Khóa Khác đến trước nhà anh Lê Trong Đôn và chạy thẳng ra Bến Cừa. Lớp Thứ Ba, từ Phú Xuân băng qua vạc nương dọc theo hàng rào nhà anh Hồ Văn Liên, hàng rào nhà Ông Lục Chọi chạy thẳng ra bờ sông sau nhà Ông Lương Thanh Lô. Song song với hàng rào kháng chiến có giao thông hào. Từ Hội Kỳ, giặc Pháp và lính Quốc Gia thường bắn súng máy qua Phước Tích. Du kích địa phương xã Phong Lâu đứng dưới giao thông hào kê súng trên hàng rào bắn tỉa lính Pháp hay lính Quốc gia xuất hiện bên Hội Kỳ.

 

     Đi lại trong làng bằng các lối tắt, lối rẽ từ vườn này qua vườn khác. Từ vườn Ông Kiểm Thơ qua vườn Ông Khóa Hậu, vườn Mụ Đường theo đường kiệt vòng qua nhà anh Hoàng Trạch Tăng đến ngõ nhà Ông Khóa Khác, nhà Ông Đội Tiệp hoặc đến nhà Ông Trần Thử qua nhà anh Lê Trong Cờ rẽ ra Miếu Cây Thị hoặc băng qua vườn Mụ Chắc Uýnh, vườn Ông Nguyễn Duy Thí (Mợ Túy), vườn Ông Đốc Hạp, vườn Mụ Nghè Ngữ lên Xóm Đình hay vòng qua vườn Ông Tự đến vườn nhà Ông Nghè Luân, Mụ Khóa Quít ra  kiệt Xóm Cây Bàng. Từ Miếu Cây Thị đến cây Mít Năm Chồi, ở đây có cổng hàng rào kháng chiến Lớp Thứ Hai. Theo kiệt xóm qua đường Ông Chắc Niên, qua trước nhà Ông Thí Hồi dọc theo ranh giới vườn Anh Hồ Văn Liên và vườn Ông Lục Chọi, ở đây có cổng hàng rào kháng chiến Lớp Thứ Ba, đâm thẳng ra kiệt Xóm Hội qua Ao Lỗ vào Mỹ Xuyên, Mỹ Cang, Phường Trung để lưu thông với vùng tự do của kháng chiến trường kỳ…

 

     Chiến tranh chống Pháp ngày càng ác liệt. Chính quyền kháng chiến quyết định di dời trường Tiểu Học Phước Tích về khu đất phía sau nhà “Mụ Khóa Quít”. Vì đất chật nên vẻn vẹn ngôi trường chỉ có 2 phòng và các thầy phân nhau dạy “sáng, chiều”. Ban đêm đạn Mortier từ đồn Mỹ Chánh, đồn Câu Nhi, Đồn Phò Trạch xối xã bắn về Phước Tích. Trường Tiểu học Phước Tích, ngày hai buổi vẫn có học trò cắp sách đến trường.

 

    Cuối năm 1950 kỳ thi tốt nghiệp Tiểu Học được Tỉnh Thừa Thiên tổ chức tại xã Phong Phú. Dự thi Tiểu Học kỳ này có Trương Đức Bưu, Trương Công Tuất, Trương Công Huấn, Lê Ngọc Khởi, Lê Trong Nhơn và Đoàn Văn Thái.

 

     Sau chiến thắng oanh liệt của quân dân Thừa Thiên tại Mỹ Xuyên, Vĩnh An, Ưu Điềm, Thanh Hương (3-1951). Giặc Pháp tăng cường kiểm soát đóng thêm đồn bốt tại những vùng đất do Việt Minh quản lý. Hai lô cốt của Pháp và Quốc Gia được đóng tại Chợ Làng Hói và Miếu Đôi ở làng Phước Tích. Một ngôi làng nhỏ bao bọc bởi con sông, chỉ có một con đường đất duy nhất thông thương với các làng quê lân cận, thế mà có đến ba bốt đồn vây kín, che lấp cả thần thánh và ánh sáng mặt trời. Trường Tiểu Học Phước Tích ngừng hoạt động từ đó. Con em làng Phước Tích lại không cò chỗ học hành mãi đên 7-1954.

 

     Thời kháng chiến chống Pháp, các trường Tiểu học và Trung học ở các tỉnh đều do Ủy ban Kháng chiến Hành chính và Nha Giáo Dục Liên khu IV quản lý. Liên khu IV bao gồm các tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên. Nha Giáo Dục Liên khu IV đóng tại Chu Lễ (Hương Khê, Hà Tĩnh) do GS Phạm Đình Ái và Ông Hoàng Quí thay nhau làm giám đốc. Từ Thừa Thiên ra Hà Tĩnh, Nghệ An phải vượt đèo lội suối đi bộ đến 15 ngày đêm.

     Kỳ thi Tiểu Học cuối năm 1949, nhưng mãi đến năm 1951 chúng tôi mới được cấp bằng. Bằng Tiểu Học của chúng tôi có hai chữ ký: Chữ ký thứ nhất của bà Võ Thị Thể (nguyên Hiệu trưởng trường Đông Khánh- Huế) k/t Chủ Tịch UBKCHC Liên Khu IV. Chữ ký thứ 2 của Ông Hoàng Quí, Giám đốc Giáo Duc Liên khu IV.

    

     Có bằng Tiểu Học, các anh Lê Trọng Ích, Lương Thanh Thử, Hồ Văn Liên, Trương Đức Bưu tiếp tục học lớp Năm (đệ thất) tại Trường Trung Học Kháng Chiến Nguyễn Chí Diểu tại làng Chánh An xã Phong Chương. Trương Thế Kỷ dự thi tuyển vào lớp Năm (đệ thất) trường Trung Học Hương Sơn (1954, Hà Tĩnh).

 

     Năm 1952, vì lý do sức khỏe và tình cảm cá nhân, ông Phạm Đình Ái hồi cư về Huế, dạy lại tại Quốc học rồi làm việc ở Bộ Quốc Gia Giáo dục Sài Gòn giữ chức vụ Giám đốc Nha Học Chánh Trung Nguyên và Cao nguyênTrung Phần. Những ai có bằng Tiểu Học vùng kháng chiến đều được chuyển đổi thành bằng Tiểu Học của Bộ Quốc Gia Giáo Dục Sài Gòn. Vì lẽ đó, các anh Lê Ngọc Giáng, Lê Ngoc Khởi, Hoàng Trạch Thạnh đủ điều kiện thi tuyển vào lớp đệ thất hệ Trung Học Đệ Nhất Cấp tại các trường ở Huế, Quảng Trị. Các anh Trương Công Tuất, Trương Công Huấn, Trương Duy Hy hội đủ bằng cấp để làm việc theo yên cầu của chính quyền đương thời.

 

     Đã 65 năm trôi qua, từ mái trường Tiểu Học Phước Tích (1949-1951) nhiều con em dân làng đã trưởng thành và có phần đóng góp cho làng, cho xã hội một chút gì đó mặc dầu còn rất nhỏ bé. Chúng tôi, Hoàng Trạch Thạnh và Trương Thế Kỷ, những người đã học dưới mái Trường Tiểu Học Phước Tích năm nào, muốn nhắc lại một thời hiếu học của con em dân làng Phước Tích giữa biết bao bộn bề gian khổ và thương đau vì chiến tranh. Chúng tôi tự hào, Phước Tích quê ta đã có một Trường Tiểu Học như thế!

 

 Tp Hồ Chí Minh-Đà Nẵng ngày 02-01-2014
Scroll To Top