Đang tải...

Mệ Gốm

Từ “mệ” - phương ngữ ở Huế - là cách gọi của từ “bà” phổ thông. Mệ Lương Thị Bê là nghệ nhân già duy nhất còn lại của làng gốm Phước Tích lưu dấu một thời. Mệ được người làng trìu mến gọi tên là “mệ gốm” bởi cả đời gắn liền với gốm.
 
Mệ Bê biểu diễn kỹ thuật chuốt gốm tại Festival Huế 2012. Ảnh: L.Đ.Dũng

Đến giờ, mệ cũng là người duy nhất ở làng cổ Phước Tích còn nắm giữ được kỹ thuật làm gốm của cha ông mấy trăm năm trước.
 
Hương xưa
 
Mệ Lương Thị Bê, năm nay 74 tuổi, nguyên quán ở làng Phước Tích, xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, Thừa Thiên - Huế. Cũng như cả làng này, nhà mệ trước đây chỉ có làm nghề gốm để kiếm sống, bởi vì cả làng Phước Tích nằm gọn trong dòng Ô Lâu, ruộng không có.
Về nghề gốm của làng, mệ kể, làng ni trước đây không có gì hết, một đám đất mà cũng phải thuê người làm cỏ. Nên ông Khai canh mới đi tìm đất về thử nặn, từ đó làm nên nghề gốm. Hiện vẫn còn cái miếu thờ của ngài Khai canh. Ông là Hoàng Minh Hùng, nguyên quán ở Nghệ An, tục gọi là Nồi, nên dân làng gọi chệch tên cái nồi nấu cơm là “nghẹ” để tránh kỵ. Từ đó nhà nào cũng có công ăn việc làm, mới có nhà rường, sân vườn, con cái ăn học. Nhà mệ Bê trước đây cũng có nhà rường lớn lắm, nhưng sau chiến tranh khó khăn quá phải bán đi.
 
Cả làng này lúc trước nhà nào cũng có lò ngửa làm trách kho cá, om nấu cơm, ấm, lò sấp nung lu đột, chum vại... Thời đó cả làng gánh gồng đi bán, về tận chợ Đại Lược dưới biển, vào tận Phú Diên ở Phú Vang, theo đò ra tận Quảng Trị. Om ngự dùng để nấu cơm cho vua cũng được đặt làm từ làng này. Bản thân mệ lúc 15 tuổi đã gánh một đầu 5 bao trách ra Diên Trường bán, họ giành nhau mua kể cả đồ bể.
  
 
Dòng gốm mỹ nghệ ở làng Phước Tích do một nhóm nghệ nhân trẻ đang theo đuổi. Ảnh: L.Đ.Dũng
 
Làng lập nghiệp từ nghề gốm nhưng thời của mệ người biết chuốt (nặn) ít lắm. Đây là công đoạn quan trọng nhất để tạo nên hình hài của các sản phẩm gốm trước khi đưa vào nung. Mệ giải thích, từ một khối đất mà nặn nên một bình gốm, cái om, cái trách thì không chỉ dùng sức mà làm được. Nhiều người to khỏe mà không nhất trí tâm, không kiên nhẫn thì cũng chịu thua.
 
Cả làng Phước Tích lúc đó chỉ có một vài người thạo nghề chuốt nên họ đắt hàng lắm, thường cả xóm phải chờ từng suất chuốt của họ. Thậm chí việc dựng vợ gả chồng cũng dựa theo tiêu chí tay nghề. Mệ kể: “Mẹ chồng của mệ trước đây chuốt giỏi lắm. Dù không đẹp nhưng lại có nhiều người đàn ông theo đuổi vì tay nghề cao. Ở làng này, con gái chuốt gốm giỏi là có giá vì phụ giúp gia đình được rất nhiều. Mệ cũng vì giỏi chuốt gốm nên được bà gia để ý và gả con trai cho”.
 
Cái làng nhỏ bé khuất lẫn sau những bóng cây, bên dòng sông hiền hòa này chịu đựng lắm gian nan vì chiến tranh. Năm 24 tuổi, mệ Bê lập gia đình với người chồng cùng xóm. Cưới nhau bảy ngày thì chồng bị bắt đi quân dịch, một năm sau trốn về theo cách mạng. Năm mệ 27 tuổi, chồng bị địch bắn chết trong một trận đánh. Từ đó mệ một mình nuôi con trai duy nhất cho đến bây giờ. “Khi đó, chồng bị địch bắn và vùi giữa ruộng khoai, đêm mệ phải ra bới trộm xác chồng về chôn. Đứa con trai ngày nào mới 10 tháng, mà nay đã 48 tuổi rồi”, mệ Bê nhớ lại.
 
Những năm chiến tranh, giặc Tây năng tràn vào làng vì lúc đó cầu Mỹ Chánh là khu chiến sự ác liệt. Mỗi lúc giặc về, làng xóm tiêu điều, nhà cửa tan hoang, lò sấp lò ngửa bị giặc phá nát. Người Phước Tích phải dạt về Mỹ Xuyên, ngược ra Quảng Trị lánh nạn và tiếp tục mở lò bám trụ với nghề.
 
Mệ Bê đã đi không biết bao nhiêu chuyến gồng gánh đi về Trùng Đơn, Diên Khánh bán gốm khắp ngõ ngách, trong lúc trên bom dưới đạn. Đã từng có 10 người của làng bị trúng bom giặc khi chở gốm qua sông ra Quảng Trị bán. Khó khăn là vậy nhưng rồi người làng vẫn dìu dắt nhau qua hoạn nạn. Sau chiến tranh, họ lại khăn gói về quê hương phục dựng lại nghề. Đó là quãng thời gian sau giải phóng, ở Phước Tích nhiều người phất lên nhờ nghề gốm. Tuy nhiên, cho đến nay, với sự cạnh tranh của đồ nhựa, làng gốm một thời dần trở thành vang bóng.
 
 Người nay
 
Ông Nguyễn Thế - Trưởng ban Quản lý di tích làng cổ Phước Tích - tâm sự: “Sau những năm 90, đồ nhựa lên ngôi, đồ gốm không ai dùng nữa. Những lò nung gốm trong làng cũng phế dần và bị vùi lấp. Người dân phiêu dạt tứ tán kiếm nghề câu cơm. Trong làng chỉ còn lại những người già và trẻ nhỏ”.
 
Ở Phước Tích hiện tại chỉ còn duy nhất mỗi mình mệ Bê là người nắm kỹ thuật chuốt gốm của cha ông. Vài ba người khác giờ ốm đau, bệnh tật. Thanh niên trai tráng phần lớn vào Huế hoặc xa hơn là phương nam học tập và bám trụ lại. Ngay cả con trai mệ cũng bỏ quê vào Huế làm nghề thợ xây.
 
Có những bận tôi về làng Phước Tích chơi nhằm vào ngày hội hoặc dịp Festival luôn thấy bóng mệ Bê trên cái bàn chuốt. Bàn tay thoăn thoắt lúc nhúm lại, lúc xòe ra theo từng kích cỡ mở đóng của bình gốm; mệ Bê khiến mọi người khách phải trố mắt thán phục bởi sự tài hoa của đôi tay.
 
Mệ bảo: “Chuốt và sên (đẩy bàn nặn) phải ăn ý nhịp nhàng, người sên phải đẩy có chừng người chuốt mới chuốt được. Khi vào đất thì đẩy khác, khi lên gốm thì đẩy khác, khi thành gốm đẩy khác. Phải hiểu nhau thậm chí đến cả tính tình mới làm thành được sản phẩm tốt. Có nhiều người trai sức có làm cũng không được. Cái kỹ thuật này khi đã in sâu vào người thì mấy chục năm cũng không quên”.
 
Kể là kể vậy chứ khi cùng tôi ngồi trò chuyện trong căn nhà nhỏ cạnh lò gốm mới phục dựng vài năm nay, đôi mắt mệ Bê thỉnh thoảng lại ánh lên những nỗi buồn xa xăm. Mệ bảo bây giờ gốm hết thời rồi, còn sức thì mệ còn gắng diễn làm qua từng mùa lễ hội. Những người khác đã nghỉ từ lâu hoặc chuyển sang buôn bán. Lớp trẻ sau này thì gắng học hành tìm việc khác chứ bám lại đất này khó lắm!
 
Sự khó khăn này được anh Nguyễn Phước Tâm - một trong năm người trẻ đảm trách việc phục dựng gốm Phước Tích theo hướng mỹ nghệ - bảo: “Vì mới phục dựng lại nên gốm Phước Tích vẫn chưa thể cạnh tranh nổi với thị trường. Hiện chúng tôi chỉ sản xuất các loại gốm mỹ nghệ như bình hoa, gốm trang trí nhưng cũng chỉ làm theo đặt hàng của những người quen. Khó khăn nhất hiện tại là thị trường và đồng vốn”.
 
Nhớ lại câu nói mà ông Nguyễn Thế từng tâm sự với tôi là làng gốm Phước Tích vẫn chỉ “đốt lửa rơm” quả đúng là một sự trăn trở lớn. Họ, những nghệ nhân già còn sót lại với vốn nghề quá dày dặn nhưng đã hết thời. Họ, vài người trai trẻ đang cố gắng theo nghiệp ông cha. Họ, những người có trách nhiệm tận tụy với việc vực sống lại cái chết của một làng nghề. Tuy nhiên tất cả vẫn đang và mãi là trăn trở nếu không có những sự hỗ trợ tích cực và quyết liệt từ các cấp chính quyền.
 
Nếu được vậy, hi vọng một ngày gặp lại mệ Bê đang truyền đạt kinh nghiệm cho con cháu chứ không phải là những lần “làm cảnh cho khách xem” như có lần mệ nói với tôi.
 
 Lê Đình Dũng
(Theo Laodong Online)
Scroll To Top