Đang tải...

Miếu Đôi

Miếu Đôi được dân làng xây dựng để thờ ngài Khai Canh và ngài Bổn Nghệ với đạo lý “uống nước nhớ nguồn, ăn trái nhớ người trồng cây”, tưởng nhớ đến công lao khai canh, khai khẩn truyền dạy nghề nghiệp, đem lại cuộc sống ấm no hạnh phúc cho dân làng. Dân làng lập miếu thờ để tỏ lòng tri ân miếu xưa được xây dựng tại xóm Hạ Hoài, mặt hướng ra nơi giao điểm của 2 dòng sông Ô Lâu - Thác Ma từ thượng nguồn chảy về.

Song thời ấy ở đây cây cối còn rậm rạp, dân cư thưa thớt, các loại thú dữ thường hay xuất hiện. Vì vậy, việc lưu tới khói hương bị ít nhiều ảnh hưởng. Hơn nữa, hằng năm, hễ gần đến ngày kỵ ngài khai canh (ngài mồng 5 tháng 11 âm lịch). Trong làng thường xảy ra những vụ hoả hoạn liên tiếp 3 năm liền toàn ở khu vực xóm Hạ Hoà gần miếu, cùng lúc các vị bô lão trong xóm và vị tiên chỉ của làng đều nằm mộng thấy một vị thần mặc sắc phục màu đỏ, râu dài đến ngực, tóc trắng như tơ tới lui quở trách, bảo phải di dời miếu lên phía đầu làng.
Các vị bô lão đem điềm báo mộng đi kiểm chứng bằng cách : ăn chay nằm đất, lập bàn khấn đảo 3 đêm tại miếu rồi tìm thầy xem bói, nhiều thầy một quẻ, nên năm 1849 thời Tự Đức thứ 2, thống nhất dời miếu lên xây dựng phía đầu làng, sát ranh giới đầu làng Mỹ Xuyên
Quy cách vẫn giống như ngôi miếu xưa tại xóm Hạ Hoà. Đến năm 1950 – 1951 chiến tranh lan rộng, người Pháp đến đây đập phá 2 ngôi miếu để làm pháo đài quan sát, phòng thủ tuyến đường từ Mỹ Chánh về Hoà Ấp, Ưu Điềm..
Đến năm 1955 sau hiệp định Giơnevơ, cuộc chiến Pháp Việt ngừng bắn, Miếu Đôi được dân làng tái thiết, kiểu dáng và kích cỡ đổi khác nhưng vị trí 2 miếu vẫn xây sát cánh bên nhau mặt quay về hướng Tây nhìn thẳng ra dòng sông Ô Lâu từ thượng nguồn chảy về. Khoảng giữa 2 ngôi miếu dựng tấm bia lớn khắc ghi công đức của ngài Khai Canh, Bổn Nghệ và đầy đủ tên 12 dòng họ đầu tiên đến lập làng.

* Phía trước cửa miếu thờ ngài Khai Canh có 2 vế đối :

- Vi đức kỳ thanh kỉ
- Hữu công tắc tự chi
Nghĩa : Ân đức thật to lớn, công lao đáng phụng thờ.

* Trước cửa miếu ngài Bổn nghệ cũng có 2 câu

- Thương tương dĩ chế khí
- Tuỳ vật nhi phó hình
Nghĩa : Chuộng dáng chế thành khí, tuỳ vật nắn ra hình.

Gia phổ họ Hoàng cũng có bài thơ ghi
Thiên, địa vi lò tạo hoá công
Nhất bàn luân chuyển, chuyển vô cùng
Vật tuỳ đại tiểu hình giai phó
Đào tạo đồ qui thủ đoạn trung
Nghĩa :
Thợ tạo lò trời sẵn có đôi
một bàn xoay, xoay mãi không thôi
vật tuỳ lớn nhỏ theo hình dáng
đều bởi bàn tay khéo nắn nhồi.

Điều đó cho thấy vị trí quan trọng của ngài Bổn nghệ trong đời sống. Tuy nhiên sự tích của ngài không thấy đề lại mà chỉ căn cứ theo gia phả của một số họ ghi vắn tắt liên quan đến nghề Gốm như : họ Hoàng, họ Phan, họ Nguyễn Duy và họ Lê Ngọc.
* Họ Hoàng ghi : : Ngài Thuỷ Tổ có công tìm thấy chỗ lấy vật liệu để mở lò Gốm
* Họ Phan chép : Thời các tiên tổ tới xứ Cồn Dương bày nghề làm Gốm
* Họ Nguyễn Duy ghi : Họ chúng ta, Ngài Thuỷ Tổ từ Nghệ An vào canh khẩn xứ Cồn Dương theo nghiệp Hà Tân lần Gốm
Họ Lê Ngọc chép : …mở mang nghề nghiệp Hà Tân để làm ăn.
* Với công lao của ngài Khai Canh, khai khẩn không những con dân làng Phước Tích tỏ bày sự tri ân mà cả các triều Vua, đặc biết là các vị Vua Triều Nguyễn đều ghi nhận công lao của các ngài, ban tặng sắc phong.
* Sắc phong ngài Bổn Thổ Khai Canh ngày mồng 8 tháng 10 năm Duy Tân thứ 7 (1913)
* Sắc phong 11 ngài Khai Khẩn ngày 27 tháng

Scroll To Top