Đang tải...

Một vài vấn đề từ miếu quảng tế ở làng Phước Tích (t.t)

(Quảng Tế.
Anh linh biệt chiếm cư Dương thổ;
Công đức quang huy tại Hóa châu).
[Cứu giúp rộng khắp. Anh linh riêng chiếm nơi Dương thổ; Công đức rạng rỡ tại Hóa châu].
“Dương thổ” được người dân nơi đây gọi là “Cồn Dương”, từ quá khứ khai thiết cho đến hiện tại. Trong các gia phổ chữ Hán của một số dòng họ ở làng Phước Tích, khi viết về những người đầu tiên đến khai phá, lập làng đều có chép họ là những người đến định cư ở xứ Cồn Dương . Đơn cử như gia phổ họ Phan:
“公 諱 之 欖 字 曰 欄 俗 曰 翁 孕 ... 徙 移 到 香 茶 縣 下 群 揚 處 立 為 家 居 陶 作 缸 器 於 是 立 目 錄 一 集 流 傳 子 孫 已 奉 事” .
“Công huý chi Lãm, tự viết Lan, tục viết Ông Dựng... Tỷ di đáo Hương Trà huyện, hạ Cồn Dương xứ, lập vi gia cư, đào tác cang khí, ư thị lập mục lục nhất tập lưu truyền tử tôn dĩ phụng sự”.
(Ông huý: Lãm, tự: Lan, tên tục: Ông Dựng. Ông di cư đến Hương Trà, xuống xứ Cồn Dương, làm nhà ở, chế tác đồ gốm, đồng thời lập một tập mục lục lưu truyền con cháu để phụng thờ...).
Rõ ràng, trước khi người Việt đến khai phá định cư xứ Cồn Dương, tại đây đã hiện hữu một tháp Chăm. Có thể tòa tháp này thờ một vị thần Yang/Yàng của người Chăm. Những người Việt đầu tiên đến canh phá đã gọi xứ đất đó là Cồn Dương. Danh xưng này phản ánh một hiện tượng thực tế của vùng đất mà họ đến canh phá. Nhưng khi viết thành văn bản chữ Hán, tên gọi được phát âm là “Yang/Yàng/Dàng/Giàng/Ràng” được kí âm Hán Việt là chữ Dương theo xu hướng chuyển đổi nguyên âm /a/ thành /ươ/ trong cách phát âm của người Việt. Đây là một hiện tượng khá phổ biến trên địa bàn Thuận - Hóa xưa, với nhiều xứ đất được gọi là Cồn Dàng, Cồn Dương, Cồn Ràng... mà gắn liền với nó là nhiều ngôi miếu được gọi là miếu bà Dàng hay miếu bà Dương, miếu Dương Phu Nhân. Chẳng hạn, tại làng Hưng Nhơn (Hải Hòa - Hải Lăng - Quảng Trị) có ngôi miếu được người dân gọi là Miếu Bà Dàng, trong miếu, hiện nay, vẫn còn thiết trí bài vị đề: “楊 夫 人 神 位” (Dương Phu Nhân Thần Vị). Hay, Miếu Bà Dàng ở làng Câu Hoan (Hải Thiện - Hải Lăng - Quảng Trị) thờ những di vật Chăm như Linga - Yoni...
Những người Việt “Nam tiến” đến định cư ở vùng Thuận - Hóa, trong quá trình xen cư, cộng cư với các cộng đồng cư dân bản địa , ngoài việc bảo vệ văn hóa truyền thống của người Việt, ít nhiều trong ý thức của họ, tinh thần phản vệ văn hóa cũng xẩy ra. Sự lo lắng trong buổi đầu đến định cư, khi người Việt còn là “thiểu số” phần nào được thể hiện trong Thuỷ thiên, qua một đoạn hội thoại giữa Phạm Quán với Bùi Trành - Trường Hiên :
“日 下 范 館 來 探 長 軒 因 與 長 軒 說 我 北 人 年 前 慰 勞 使 相 公 营 葬 於 此 今 年 總 兵 使 又 营 葬 於 此 意 者 天 其 曉 示 子 孫 當 來 此 居 故 先 將 我 曹 父 親 埋 葬 於 此 以 便 我 曹 以 免 禍 患 長 軒 云 汝 既 深 思 及 此 順 汝 决 志 营 居 與 我 為 鄰 亦 一 好 也 范 館 云 此 處 占 人 多 而 平 民 少 窃 恐 生 下 子 孫 一 齊 十 楚 還 染 蠻 風 如 公 所 居 平 民 多 而 占 人 少 日 下 終 染 於 我 習 以 成 風 乞 属 仁 里 庶 能 貽 厥 孫 謀 公 或 充 否 長 軒 良 又 曰 汝 言 有 理 我 耳 順 焉 彼 此 不 遠 只 此 分 別 可 謂 深 思 者 也 ” .
[Nhật hạ, Phạm Quán lai thám Trường Hiên, nhân dữ Trường Hiên thuyết:
Ngã Bắc nhân, niên tiền Úy Lạo Sứ tướng công doanh táng ư thử. Kim niên, Tổng binh sứ hựu doanh táng ư thử, ý giả thiên kỳ hiểu thị tử tôn đương lai thử cư. Cố tiên tương ngã tào phụ thân mai táng ư thử dĩ tiện ngã tào miễn họa hoạn.
Trường Hiên vân:
Nhữ ký thâm tư cập thử thuận, nhữ quyết chí doanh cư dữ ngã vi lân diệc nhất hảo dã.
Phạm Quan vân:
Thử xứ Chiêm nhân đa nhi Bình nhân thiểu. Thiết khủng sinh hạ tử tôn nhất Tề thập Sở hoàn nhiễm Man phong. Nhữ công sở cư Bình nhân đa nhi Chiêm nhân thiểu, nhật hạ chung nhiễm ư ngã tập dĩ thành phong. Khất thuộc nhân lý, thứ năng di quyết tôn mưu. Công hoặc sung phủ?

Trường Hiên lương hựu viết:
Nhữ ngôn hữu lý, ngã nhĩ thuận yên. Bỉ thử bất viễn, chỉ thử phân biệt, khả vị thâm tư giả dã].
(Một ngày Phạm Quán đến thăm Trường Hiên, nhân đó nói với Trường Hiên:
Tôi người Bắc. Năm trước Úy Lạo sứ tướng công được chôn nơi này. Năm nay, Tổng Binh Sứ lại chôn nơi này. Đó là ý trời bảo con cháu sau này nên ở lại đây. Do vậy, tiền nhân muốn chúng tôi đem phụ thân mai táng nơi này để tiện cho chúng tôi miễn được họa hoạn.

Trường Hiên nói:
Anh đã nghĩ rất sâu, điều đó rất thuận. Anh nên quyết chí định cư, làm hàng xóm với tôi. Đó là điều tốt nhất vậy.

Phạm Quán nói:
Xứ này người Chiêm nhiều mà Bình nhân [chỉ người Việt gốc từ đất Bắc (ND chú)] ít, sợ sinh hạ con cháu một Tề mười Sở rồi nhiễm biến phong tục của người Man. Như chỗ ông ở Bình nhân nhiều mà người Chiêm ít, cuối cùng sau này cũng nhiễm theo tập quán rồi thành phong tục của ta. Xin thuộc “Nhân Lý”, tiếp đến để mưu đồ cho con cháu sau này. Ông có thể thu nạp được không?

Trường hiên ôn tồn nói:
Anh nói có lý, rất thuận tai tôi. Đây đó không xa, chỉ chừng đó đủ phân biệt được, có thể nói, Anh là người suy nghĩ sâu vậy).
Tuy nhiên, những người Việt “nam tiến” không hoàn toàn chối bỏ tín ngưỡng của người tiền trú. Tín ngưỡng thờ Bà Dàng hay thờ Thánh Mẫu Thiên Y A Na, Kỳ Thạch Phu Nhân, Thai Dương Phu Nhân, Thần đá làng Phương Sơn... được người Việt tiếp nhận thờ phụng là những minh chứng cụ thể.
Trường hợp miếu Bà Dàng/Bà Dương/Dương Phu Nhân và miếu Quảng Tế ở làng Phước Tích là một hiện tượng điển hình cho quá trình giao lưu, tiếp biến văn hoá Việt - Chăm. Đó là một quá trình tiếp biến tín ngưỡng thờ Yang/Yàng của người Chăm thành tín ngưỡng thờ thần của người Việt.
Những người Việt đến vùng đất mới, họ đã Việt hóa vị thần này với tên gọi dân gian là Bà Dàng/Bà Dương. Đến triều Nguyễn vị thần này đã được điển chế, “phong chức tước, tham dự vào hàng các thần bảo vệ quốc gia”, với danh hiệu là Dương Phu Nhân. Đó là một “sự chia xẻ quan niệm về cõi siêu linh” ... “một bumông (đền thần Chàm) đã trở thành đền miếu Việt” [Tạ Chí Đại Trường, 2006: 206 - 207].
Hiện nay, ở làng Phước Tích, ngoài những miếu được gọi tên theo những vị được thờ trong miếu, còn các miếu có tên gọi như miếu Quảng Tế, miếu Cây Thị, miếu Vua, mà phần lớn người dân trong làng không rõ miếu đó thờ ai, hay thậm chí có trường hợp miếu Thành Hoàng trở thành miếu Ngũ Hành mà nhiều người vẫn không hề hay biết. Việc tái xác nhận Miếu Quảng Tế chính là Miếu Bà Dàng hay Miếu Dương Phu Nhân là một vấn đề nhỏ nhưng vô cùng quan trọng trong việc xem xét, giải quyết các vấn đề về lịch sử và văn hoá, giao lưu tộc người Việt - Chăm ở một ngôi làng cụ thể, và trong một chừng mực nhất định, có thể mở rộng ra là cả khu vực miền Trung.
 
L.Đ.H

Tài liệu tham khảo

  1. Bảo Tàng Văn Hóa Dân Gian Huế (2008), Văn bản Hán Nôm làng xã vùng Huế, Huế: Nxb. Thuận Hóa.
  2. Bùi Trành (1956), Thủy Thiên, [Việt Nam Cộng Hòa bính thân niên chánh nguyệt sơ thập nhật - Bản phái trưởng Bùi Văn Quang, Bùi Văn Các nhân tu gia phổ thừa sao nguyên Bát phẩm Bùi Hữu Hoàn bút tích. Cựu chỉ bản gia tàng lưu chiếu. Thời nhân tu tả phổ tịnh thừa sao Phạm Danh Chuyên tự dạng].
  3. Hội Kiến Trúc Sư Việt Nam  Sở VHTT Thừa Thiên Huế (2004), Làng di sản Phước Tích, Huế: Công ty in Thống kê & SXBB Huế.
  4. Lê Trọng Ngữ (1971) Nghề gốm Phước Tích, (bản chép tay).
  5. Nguyễn Duy Mai (2007) Phước Tích hương xưa làng cổ, (bản chép tay).
  6. Nội các triều Nguyễn (1993), Khâm định Ðại Nam hội điển sự lệ, Huế: Nxb. Thuận Hóa.
Tạ Chí Đại Trường (2006), Thần Người và Đất Việt, Hà Nội: Nxb. VHTT.
Scroll To Top