Đang tải...

Những biểu cảm truyền thống bằng ngôn từ

1. Dẫn luận

    Để có thể liên lạc với nhau, các thành viên cộng đồng luôn quy ước và sử dụng một số hệ thống ký hiệu - phương tiện có khả năng thể hiện ý nghĩa và giá trị. Ký hiệu có thể là các thói quen xã hội (nghi lễ, lễ tiết, trang phục...), quy cách giao tiếp (khoảng cách giữa người nói và người nghe, hành động bắt tay, cúi gập người, vẫy tay...), các ký hiệu đặc thù (biển báo giao thông, ký hiệu hoá học, ký hiệu toán học, biểu đồ...) và đặc biệt là ngôn ngữ: hệ thống ký hiệu trọng yếu nhất, để con người trao đổi thông tin cũng như “mã hóa kinh nghiệm và sắp xếp kiến thức hiểu biết về thế giới và bản thân mình” (Schultz, E. A., Lavenda, R. H., 2001:126). Vì lí do này, Claude Lévi - Strauss (1829 - 1902), tác giả của Cấu trúc luận đã từng phát biểu:

    “nhân loại học là một phân nhánh của ngành tín hiệu học (...). Các nhà nghiên cứu nhân loại học cần tiến hành phân tích các hiện tượng tín hiệu xã hội, tìm ra kết cấu quan hệ tầng sâu, chứng minh được ý nghĩa của một thành phần nào đó là kết quả của sự phân tích so sánh với thành phần khác” (Lưu Nhuận Thanh, 1998: 180 - 181).

    Trên thực tế, các nhà ký hiệu học cũng đồng thời là những nhà nghiên cứu văn hoá, với những đại biểu như F.de Saussure (Thuỵ Sĩ), Charles Sander Peirce (Mỹ), Roman Jakopson, Bogatyrev (Nga)... Họ đã cung cấp những cách nhìn liên ngành về sự giao tiếp của con người trên cơ sở phân tích các văn bản văn hoá dân gian (huyền thoại, truyện cổ tích, thơ ca truyền miệng ...), trang phục, phong tục truyền thống, các hình thức diễn xướng v.v. (Frank Proschan, 2005).

    Ngôn ngữ học, với tư cách là một phân môn của ký hiệu học hay là một ngành khoa học độc lập, cũng luôn được đặt trong mối liên hệ chặt chẽ với nhân học. Khuynh hướng áp dụng các nguyên tắc và phương pháp của ngôn ngữ học vào nghiên cứu nhân học cũng đã trở nên phổ biến và thường được biết đến bằng thuật ngữ ngữ nghĩa dân tộc học (Nguyễn Đức Tồn, 1993: 17). L.Hjelmslev đã nói về mối quan hệ này trong một cách diễn đạt khá lãng mạn nhưng không kém sâu sắc:

     “Ngôn ngữ cho chúng ta ký ức, còn ký ức cho chúng ta sự ấm áp và sức mạnh. Nhưng ngôn ngữ không phải là người đồng hành ngoại lai mà tồn tại ngay trong chính bộ não của chúng ta, nó là ký ức vô cùng mà mỗi cá nhân hay mỗi gia tộc truyền từ đời này sang đời khác. Ngôn ngữ cho chúng ta minh mẫn hơn, cảnh giác hơn. Hơn nữa, lời nói là dấu hiệu rất rõ rệt của tính cách cá nhân, cho dù đó là tính cách nào đi nữa. Nó cũng chính là dấu hiệu của gia đình và gia tộc, là đặc quyền tối cao của nhân loại. Ngôn ngữ có mối quan hệ mật thiết với tính cách, gia đình, dân tộc, nhân loại, đời sống xã hội đến nỗi đôi khi chúng ta lại nghi ngờ ngôn ngữ liệu có phải là sự phản ánh của tất cả, có phải là sự tập hợp của tất cả hay có phải là nguồn cội của tất cả hay không?” (Lưu Nhuận Thanh, 1998: 258).

    Những mối liên hệ giữa ký hiệu học và nhân học, hẹp hơn là giữa ngôn ngữ học và nhân học, được thể hiện ở rất nhiều quá trình ngôn ngữ khác nhau: ý nghĩa của từ, sự phạm trù hoá hiện thực, quá trình định danh, quá trình chuyển nghĩa của tên gọi .v.v. Đây chính là cơ sở cho phép chúng ta nghiên cứu văn hoá dân gian, bao gồm cả văn hoá dân gian trong các nghề truyền thống, từ góc nhìn ngôn ngữ học, bên cạnh những mô tả mang tính dân tộc học.

2. Nghề gốm Phước Tích: những biểu cảm truyền thống bằng ngôn từ

    Phước Tích là một làng cổ nằm ven bờ sông Ô Lâu, nay thuộc xã Phong Hoà (huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế), nổi tiếng với hệ thống kiến trúc độc đáo, hoà quyện với cảnh quan thiên nhiên hữu tình và hệ thống thiết chế tín ngưỡng lưu dấu sự cộng cư hoà bình Champa - Việt trong quá khứ, và đặc biệt là có nghề gốm một thời hưng thịnh. Đồng hành với vốn tri thức nghề nghiệp (kỹ thuật, kinh nghiệm) và cũng nhằm biểu thị nó, một hệ thống từ ngữ nghề nghiệp được hình thành trong cộng đồng cư dân nơi đây 1.

    Xét một cách tổng thể, các làng nghề thủ công truyền thống đang đứng trước nhiều khó khăn bởi sự xâm nhập ồ ạt của các mặt hàng sản xuất hàng loạt và nghề gốm Phước Tích đã không còn hoạt động gần 20 năm nay. Sức sống của nghề gốm, do vậy, chủ yếu tồn tại trong ký ức của người già. Dĩ nhiên, từ ngữ nghề nghiệp chính là phương tiện để họ hệ thống hoá từng mảng tri thức đó. Nói cách khác, từ ngữ nghề gốm Phước Tích là một hệ thống ký hiệu, một “bản mã” tường thuật tri thức, kinh nghiệm nghề nghiệp và những khía cạnh thuộc về đời sống vật chất cũng như tinh thần.

2.1. Không chỉ là sự tường thuật kinh nghiệm

    Xem người làm gốm Phước Tích là một cộng đồng ngôn phong 2 thì sự đa dạng khác biệt thể hiện trên bình diện từ vựng chính là hệ thống từ ngữ đặc thù với sự xuất hiện ở tần số cao các đơn vị ngôn ngữ liên quan đến nghề gốm. Với họ, quá trình lặp đi lặp lại trong nghề gốm trở thành những mảnh kinh nghiệm liên hệ chặt chẽ với nhau và được ngôn ngữ “gắn nhãn”. Bên cạnh những tên gọi mang tính võ đoán, thế giới quan “vạn vật hữu linh” cũng đặc biệt được ghi dấu đậm nét trong cách định danh của người Phước Tích về nguyên vật liệu và công cụ sản xuất, động tác và quy trình sản xuất, đặc biệt là các sản phẩm họ tạo ra.

    Một nội dung quan trọng của thế giới quan vạn vật hữu linh chính là quan niệm “không những các con vật hay cây cỏ, mà còn cả những cái không thể tái sinh của thế giới đều là những sự vật đều có thể tái sinh” (Sigmund Freud, 2006: 124).

    Từ  chỗ coi sự vật cũng tồn tại như chính bản thân con người, với các từ ngữ liên quan đến lò nung trong từ ngữ nghề gốm Phước Tích, có thể thấy một số lượng đáng kể những tên gọi được hình thành dựa trên quá trình chuyển nghĩa: chân (mình) lò, dây tim, nọc tim, mặt ngài, miệng lò, miệng lửa, mình lò, mũi lò, sườn nôống, nốông rúm. Ở đây, các từ trong trường biểu vậtchỉ cơ thể người (hoặc động vật) (chân, mình, tim, mặt, miệng, mũi, sườn, rúm) đã chuyển nghĩa theo phương thức ẩn dụ để chỉ các bộ phận của vật, chủ yếu dựa trên sự giống nhau về vị trí của sự vật (ẩn dụ vị trí: tim, chân, mình, mũi) hoặc về vị trí lẫn hình dáng (rúm, miệng, sườn). Nguồn gốc của ẩn dụ ngữ nghĩa này được các nhà ngôn ngữ học giải thích là “sự tương quan của nghĩa cũ và nghĩa mới trong hệ thống đồng đại” (Ullmann S, 1979: 102), và chúng mang tính phổ quát cho nhiều ngôn ngữ. Trong tiếng Việt, có thể dễ dàng bắt gặp những tên gọi chỉ bộ phận kiểu như: mặt bàn, chân bàn (bàn), mũi tàu, thân tàu (tàu), mặt đất, chân trời, mũi dao, lưỡi dao .v.v. Song, điểm đặc biệt không phải ở cách thức chuyển nghĩa mà là sự “lôi kéo” nhau với số lượng lớn của các từ trong trường biểu vật chỉ cơ thể sinh vật, tạo ấn tượng về lò không đơn thuần là một sự vật vô tri, mà là một sinh thể sống, một người bạn, một “mẹ lò” gắn bó thiết thân với con người.

    Trong những tư thế khác nhau (lò sấp, lò ngã), người “mẹ lò” ấy cho ra đời những “đứa con” được định danh qua phương cách “sinh thành”: kẻ lò sấp, kẻ lò ngữa... và thậm chí, còn được nhận diện thông qua những đường nét rất người 3: hông (bầu/thằng), miệng (rộng/nhỏ/loe/đứng), (có/không có) đít, lợi (cuốn ra/ to)... Trong trường hợp này, nhận định “ngôn ngữ được tạo ra theo thước đo của con người” của Stepanov (1974) được minh chứng rất rõ ràng. Tuy nhiên, thước đo con người ở đây không lý giải cho việc xem con người là sinh vật thống lĩnh, quyết định tất cả, như quan điểm của “chủ nghĩa dĩ nhân vi trung” (anthropocentrisme) phổ biến ở phương Tây trước đây. Ngược lại, trong tâm thức người phương Đông, luôn chú ý đến mối quan hệ hài hoà, không khác biệt giữa bản thể con người và vạn vật; tìm thấy trong vạn vật những phẩm chất, những đặc tính hết sức thân thiết, gần gũi, như chính bản thân họ.

    Cũng từ mối quan hệ hài hoà này, thông qua quy luật của các sự vật vô tri, con người đúc kết thành những quy tắc ứng xử trong cuộc sống, mà thành ngữ, tục ngữ chính là cách nói hàm súc nhất của người Việt. Trong truyền thống chung ấy, có những đơn vị ngôn ngữ được người làm gốm Phước Tích sử dụng không chỉ để diễn tả tri thức nghề nghiệp, mà còn là những ẩn dụ về mối quan hệ giữa con người với con người: chấp thằng thủ mặc (cầm dây nảy mực), đất ối đất đam, chuốt buốt thẩy, đầy gầu lút mạng, chưa chín đã rọ.

    Ngoài ra,trong quá trình người “Kẻ Độôc” “tường thuật kinh nghiệm”, có thể dễ dàng nhận ra các cặp trái nghĩa thường xuyên được sử dụng: đất xấu/đất tốt, mốc hạ/mốc thượng, nọc mốc hạ/nọc mốc thượng, lò ngã/lò sấp, nôống chính/nôống phụ, bàn nậy/bàn nhỏ, hấp côi/hấp đưới, nung lò ngã/nung lò sấp, nung nặng củi/nung nhẹ củi, dúm già/dúm non, kẻ lò ngã/kẻ lò sấp, xấu kẻ/tốt kẻ, trả kẻ/mượn kẻ... Đây chính là biểu hiện “tính lưỡng hợp (dualism)”(Lý Toàn Thắng, 2005: 265) của tư duy người Việt trong việc nhận thức thế giới.

2.2. Từ ngữ kiêng kỵ và đời sống tâm linh

    Hầu như mỗi dân tộc, mỗi nền văn hoá đều có  những quy ước riêng về những điều cấm kỵ/kiêng kỵ trong quan hệ, hành động, ăn uống .v.v. mà nếu vi phạm, có thể gây họa và phải chịu nhiều những cấp độ hình phạt, thậm chí cái chết. Kiêng kỵ cũng tác động đến ngôn ngữ. Do những quy định của truyền thống, phong tục, có những người, những vật mà người ta sẽ không được nói đến, hoặc khi cần thiết, phải diễn đạt “vòng vo” theo một cách khác. Các quy tắc xã hội, những giá trị văn hoá, những niềm tin đã được khẳng định của một cộng đồng, vì thế, một phần sẽ được phản ánh thông qua ngôn ngữ kiêng kỵ (linguistic taboo). Ngược lại, người ta cũng sẽ không thể hiểu được toàn diện một ngôn ngữ, trong đó có ngôn ngữ kiêng kỵ, nếu không đặt chúng trong từng ngữ cảnh văn hoá, ngữ cảnh địa phương mà ngôn ngữ đó được sử dụng.

    Trong truyền thống của người Việt, phổ biến lối nói kiêng kỵ và kiêng huý (taboo and verbal prohibitious). Chúng có thể chỉ có giá trị ở cộng đồng này nhưng không có giá trị ở cộng đồng khác (ví dụ từ ngữ kiêng kỵ trong một nghề nghiệp nhất định: hát tuồng, đánh cá, đi rừng...); có thể có hiệu lực ở thời kỳ lịch sử này nhưng không có hiệu lực ở thời kỳ lịch sử khác (ví dụ: kỵ huý hoàng tộc), thậm chí là chỉ có giá trị ở gia đình này mà không phải là ở gia đình khác (nhập gia vấn huý). Các đơn vị ngôn ngữ được dùng để diễn đạt “vòng vo” có thể có những mối quan hệ khác nhau so với đơn vị được thay thế: đọc trại, chuyển nghĩa, đồng nghĩa, thêm bớt nét chữ (chữ Hán)...

    Từ  ngữ kiêng kỵ trong nghề gốm Phước Tích tuy không nhiều, nhưng mỗi trường hợp lại mang nội hàm văn hoá riêng, theo một quy luật thay thế riêng xét từ góc độ ngôn ngữ.
    Từ  ngữ thay thể         Từ  ngữ kiêng kỵ
    nghẹ:

    ra mồ hôi:

    xoè:

    uống nác

    ...
        (cái) nồi

    (kẻ  đang nung thì) rịn nước

    nứt(toát ra)

    (vỡ)  nát

    tréo chân méo miệng

    Việc người Phước Tích sử dụng từ ngữ kiêng kỵ trong sinh hoạt sản xuất có thể giải thích từ hai nguyên nhân chính:

    (1) Phong tục kỵ huý: một trong những nguyên tắc giao tiếp của người Việt là kỵ huý những người lớn tuổi để thể hiện sự kính trọng, kỵ huý những người đã khuất để tránh phạm vào sự linh thiêng của các linh hồn. Các vương triều phong kiến trước đây cũng đặt ra lệ kỵ huý nhằm tạo khoảng cách giữa hoàng tộc và tầng lớp bình dân.

    Ở Phước Tích, Nồi là tên của ngài Khai canh - Bổn nghệ (họ Hoàng) của làng: “ngài thỉ tổ họ Hoàng lúc bấy giờ là Hoàng Minh Hùng, tục gọi là Nồinguyên người làng Cảm Quyết, tỉnh Nghệ An đã thân chinh đánh đuổi Chiêm Thành...” (Nguyễn Hữu Thông, 1994: 131). Do đó, “nồi” là một từ kiêng kỵ, đặc biệt lại còn được thiêng hoá qua một truyền thuyết: một anh thợ bạc đi qua trước miếu ngài Khai canh, rao rằng: “ ai hàn nồibịt bạc không?, lập tức, bị ngã ra bất tỉnh, nhờ người làng khấn vái mới khỏi (Lê Trọng Ngữ, 1971: 46).

    Nếu như yếu tố ngoài ngôn ngữ, cụ thể là  bối cảnh văn hoá xã hội với những phong tục và định chế đã nêu giải thích nồi là từ kiêng kỵ của người Phước Tích thì nguyên nhân từ nghẹ thay thế cho nồi phải xem xét từ góc độ ngữ nghĩa. Có thể thấy rằng, nếu đứng độc lập, nghẹ hoàn toàn vô nghĩa và rất khó tìm mối liên hệ ngữ nghĩa nào giữa nóvới từ nồi. Nhưng nếu đặt nghẹ trong lọ nghẹ - từ chỉ nhọ nồi của người miền Trung - thì dường như có sự tương ứng lọ = nhọ; nghẹ = nồi. Như vậy, nghẹ và nồi có thể có quan hệ đồng nghĩa. Mặt khác, nếu hiểu nghẹ là cách nói rút ngắn của lọ nghẹ - lớp bụi đen ở mặt ngoài của xoong, nồi thì quan hệ giữa nghẹ và nồi có thể giải thích là dùng cái bộ phận (nghẹ) để diễn đạt cái toàn bộ (nồi).

    Song song với kiêng huý ngài khai canh (cũng là tổ nghề), trong đời sống của người Phước Tích còn tồn tại tồn tại một sự vật được định danh bằng Đào nghệ miếu (miếu thờ vị tổ nghề). Tín hiệu ngôn ngữ này, ít nhất, đã khẳng định tín ngưỡng thờ cúng nghiệp tổ trong đời sống tâm linh của người Phước Tích. Không dừng lại là một mỹ tục thể hiện lòng tri ân đối với các bậc tiền nhân có công khai cơ dựng nghiệp, trong chiều sâu tâm linh, đây còn có thể coi là hành vi thờ kính cái mà Cadière gọi là “thần linh của những hành vi con người” (Đỗ Trinh Huệ, 2006: 132).

    (2) Nguyên nhân kinh tế: Bản chất của con người là luôn hướng đến sự mưu cầu hạnh phúc trong quá trình sinh tồn. Với người Phước Tích, sự thành bại của mỗi mẻ gốm liên quan trực tiếp đến cuộc mưu sinh, những gì liên quan đến sự hư hại, đổ vỡ luôn là điều bất đắc dĩ. Do đó, cũng như người đi biển tránh các từ úp, mất, tuột..., họ cũng tránh các từ: nứt, nát, rịn. Các từ ngữ thay thế các từ kiêng kỵ này thường có chung một hoặc một số nét nghĩa nào đó:

    + ra mồ hôi: ra mồ hôi và rịn (nước) đều diễn đạt một hiện tượng thấm ướt ra bên ngoài từng ít một của vật (rịn), của người (ra mồ hôi). Như vậy, cách diễn đạt kiêng kỵ ở đây được hình thành dựa trên những nét nghĩa tương đồng giữa hai đơn vị ngôn ngữ (rịn và ra mồ hôi). Đây còn là một phép nhân hoá, lấy một ngữ định danh liên quan đến trường nghĩa chỉ người để diễn đạt một hiện tượng của sự vật.

    + xoè: Cũng tương tự ra mồ hôi (rịn), xoè - cách diễn đạt kiêng kỵ của nứt toác ra - dựa trên sự tương đồng của một số nét nghĩa: [dời chỗ] [xoay quanh].

    + uống nác (nát): “nác”, tiếng địa phương có nghĩa là “nước”, uống nác = uống nước. Mặt khác, ở vùng Thừa Thiên Huế, hai phụ âm cuối /c/ và /t/ đều phát âm là /c/. Dựa vào hiện tượng đồng âm này, người Phước Tích đã dùng một danh từ (nác/nước) để diễn đạt một tình trạng “nát”. Để lối nói kiêng kỵ trong trường hợp này “chặt chẽ” hơn, nác/nước được xác định tư cách danh từ bằng cách kết hợp với động từ “uống”. Ngoài ra, uống nác còncó thể hiểu là hình ảnh hoán dụ về sự thất bại, không còn gì để ăn nên phải uống nước suông.

    + tréo chân méo miệng: là từ ngữ kiêng kỵ  không có đơn vị thay thế, tuyệt nhiên không được nhắc đến khi đang nung gốm, mặc dù trong giao tiếp thông thường (bên ngoài lò nung), nó được dùng để chỉ sản phẩm không đạt chất lượng.

    Kiêng huý và những uyển ngữ để diễn đạt điều cấm kỵ trên đây, suy cho cùng, là biểu hiện niềm tin của người thợ thủ công vào sức mạnh huyền bí, siêu nhiên - những thế lực có khả năng dẫn dắt hành vi của con người cũng như hoạt động của công cụ. Nói cách khác, người thợ thủ công tin rằng, sự sáng tạo và khéo léo trong hành động tạo tác là điều kiện cần thiết nhưng “sự thành bại là tuỳ thuộc vào các sức mạnh siêu nhiên đang cùng hành động hơn là nhờ vào bản thân con người” (Đỗ Trinh Huệ, 2006: 134).

2.3. Từ ngữ biểu thị cơ cấu tổ chức sản xuất và tinh thần cố kết cộng đồng

    Công việc phức tạp và nặng nhọc của nghề gốm luôn cần có sự tổ chức sản xuất, phân công lao động hợp lý. Các danh từ chỉ đơn vị mang nghĩa tập hợp: ban, xâu (đất), xâu (lò)là những ngữ liệu cho thấy mối liên tưởng đến tính chất phường hội, mối liên kết nghề nghiệp của người làm gốm. Trong quá trình sản xuất gốm, mỗi công đoạn đều có một đội ngũ chuyên trách: thủ mặc - lo việc hướng dẫn xây lò; thợ xên, thợ chuốt - làm đất, nắn hình; thợ bưng kẻ - trao kẻ vào lò; lãnh nung - sắp kẻ để thợ nung hoàn thành công đoạn cuối cùng. Ngoài ra, mượn kẻ, trả kẻ, tiền thiếu cũng là những từ ngữ biểu đạt tinh thần tương trợ nhau trong quá trình sản xuất của những người làm gốm.

    Gắn  liền với hợp tác trong sản xuất, họ cũng có phương thức đặc thù để cùng nhau thụ hưởng thành quả lao động một cách công bằng nhất. Thông thường, một lò gốm được chia thành nhiều phần, mỗi phần được gọi là một cheo kẻ, có bao nhiêu người góp kẻ vào để nung thì có bấy nhiêu cheo. Mọi chi phí cho thợ bưng kẻ, lãnh nung, thợ nung sẽ được các cheo cùng nhau chi trả.

    Phường hội là một tổ chức được tập hợp trên cơ sở những người có cùng nguyện vọng, sở thích, hay nghề nghiệp, có tác dụng hỗ tương giữa các thành viên, cả về mặt kinh tế lẫn xã hội. Tuy nhiên, ở nghề gốm Phước Tích, ngoài những yếu tố biểu hiện của quan hệ phường hội, cũng cần chú ý đến các khía cạnh của quan hệ huyết thống. Lò dánh (lò làm trên đất của nhánh (dánh) - một bộ phận của dòng họ) là một ngữ định danh mà tự thân đã thể hiện sự quyện hoà xoắn xuýt giữa hai mối quan hệ này. Điều đó được giải thích bởi thực tế của những mối quan hệ chằng chịt giữa những người trong dòng họ và giữa các dòng họ với nhau trong làng Việt, ở đó, mỗi người

    “... cho dù bất cứ hoàn cảnh nào cũng thuộc về một họ, tức gia đình theo nghĩa rộng, tổ chức vững chắc, liên kết chặt chẽ bằng huyết thống, bằng những quyền lợi vật chất, bằng những niềm tin tôn giáo, bằng các mối dây luân lý của cộng đồng” (Đỗ Trinh Huệ, 2006: 89).

    Liên quan đến vai trò của dòng họ trong nghề gốm Phước Tích, có một câu được ghi trong văn tế ngài Bổn nghệ cần được lưu ý: “tam chánh tộc đào nghệ tư công liệt vị tôn thần” (Lê Trọng Ngữ, 1971: 47). Ở đây, chữ “đào” (陶) có thể hiểu là “đồ sành, đồ gốm” àtam chánh tộc đào nghệ (ba dòng họ chính chuyên nghề làm gốm); hoặc “sự giáo hoá” 4 àtam chánh tộc đào nghệ (ba dòng họ chính mở mang nghề nghiệp). Dù hiểu theo cách nào thì đây cũng là tín hiệu phản ánh một tầng lớp quý tộc trong lao động (aristoracy of labor) tồn tại thấp thoáng trong cơ cấu tổ chức của làng gốm Phước Tích. Trong tầng lớp này, thủ mặc 5(守墨) là nhân vật rất quan trọng, mà địa vị “quý tộc” thể hiện ngay ở cái “nhãn” Hán - Việt được gắn vào để gọi tên ông ta, trang trọng hơn hẳn những cách gọi nôm na, kiểu như: thợ nung, thợ chuốt, thợ xên, thợ bưng kẻ, nhà kẻ phơ. Quan hệ của những người “cùng nghề nhưng không cùng thân phận” (Nguyễn Hữu Thông, 1994: 139), đôi lúc có thể nhận diện một cách đơn giản qua các phương tiện ngôn ngữ dưới những dạng thức tương tự như vậy. Cần phải nói thêm rằng, sở dĩ thủ mặc có được địa vị quan trọng vì ông ta gần như là người duy nhất nắm được bí quyết xây dựng lò nung - một công cụ quyết định đến sự sinh tồn của cả cộng đồng. Đây cũng là lý do khiến ở Phước Tích hiện này không còn vị thủ mặc nào dù không mấy khó khăn để tìm một thợ gốm.

    Ngoài ra, do cuộc sống gắn liền với nghề gốm nên người Phước Tích có cách đặt tên riêng khá đặc biệt. Với những danh từ chung chỉ các sự vật liên quan trực tiếp đến chất liệu (trèng), công cụ (lò) và sản phẩm (độôc) của nghề
Scroll To Top