Đang tải...

Phước Tích - Câu Nhi , những năm tháng không thể nào quên

Dọc con sông Ô Lâu có những ngôi làng được hình thành từ  lâu, vào thời nhà Lê , gần với thời gian mở mang bờ cõi về phương Nam của nhà nước phong kiến Đại Việt , trong đó có làng Phước Tích và làng Câu Nhi.

Theo sử sách ghi lại, làng cổ Phước Tích được thành lập vào khoảng thế kỉ 15, Trong gia phả của họ Hoàng - dòng họ khai canh ở Phước Tích có đoạn chép: "Đến đời Lê Thánh Tôn, niên hiệu Hồng Đức thứ nhất và hai (1470 - 1471), ngài thủy tổ họ Hoàng lúc bấy giờ là Hoàng Minh Hùng, tục gọi là Nồi, nguyên người làng Cẩm Quyết, tỉnh Nghệ An, đã thân chinh đánh đuổi quân Chiêm Thành, sau chiến thắng trở về ngài đi xem xét đến nguồn Ô Lâu, bao chiến địa phận từ Khe Trăn, Khe Trái đến xứ Cồn Dương, sau khi xem bói, đoán biết được chỗ đất tươi tốt, ngài liền chiêu tập nhân dân thành lập làng".
 
Lúc đầu Làng có tên gọi là Phúc Giang như mong muốn một vùng gần sông nước nhiều phúc lộc. Trong Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn, làng Phúc Giang bên bờ sông Ô Lâu thuộc tỉnh Hương Trà . Đến thời Tây Sơn, Phúc Giang được đổi thành Hoàng Giang, để nhớ đến dòng họ khai canh lập làng (Hoàng là tên dòng họ khai canh, Giang là vùng gần với sông nước). Đến đời Gia Long, làng được đổi tên thành Phước Tích, như là mong muốn của người dân được tích lũy phúc đức cho con cháu.
 
Với ước mong đó, các thế hệ dân cư của làng đã tiếp nối truyền thống ông cha lao động sáng tạo xây dựng cho mình một làng quê tươi đẹp với những nét văn hóa cổ kính, như cảnh quan kiến trúc của làng mang đậm triết lí phương Đông, như văn hóa làng nghề, dòng họ, xóm, phe và đặc biệt là hệ thống đình, chùa, đền, miếu, nhà rường cổ.
 
Theo sử sách và gia phả các dòng họ còn lưu lại, làng Phước Tích được thành lập từ năm 1470 vào những năm đầu trong đợt di dân thứ 2 vào vùng Thuận Quảng, sau cuộc bình Chiêm năm 1471 dưới triều vua Lê Thánh Tông. Cách đây khoảng trên 500 năm, vùng nay được gọi là xứ Cồn Dương, được bao bọc bởi dòng sông Ô Lâu uốn cong hình móng ngựa.
 
Làng Câu Nhi thuộc xã Hải Tân xưa có tên là Câu Lãm- một làng có tiếng văn vật. Mảnh đất này đã sản sinh ra nhiều nhân vật “vang bóng một thời” như: Hoàng Bôi, Hoàng Phú, Trần Hữu Mậu, Bùi Văn Tú, Hoàng Trinh, Trần Hoàn (Nguyễn Tăng Hích)…trong đó, nổi danh là Bùi Dục Tài- vị tiến sĩ đột phá khai khoa đầu tiên của xứ Đàng Trong được khắc ghi ở bia Văn Miếu năm 1502 . Các tài liệu hiện còn cho biết làng được thành lập từ đầu thế kỉ XV nhờ công lao của 12 họ (Bùi, Hoàng, Nguyễn, Phạm, Trần, Lê, Đào, Đỗ, Trương, Phan, Đặng, Đề) trong đó đứng đầu là vị tiền khai khẩn Bùi Trành.
 
Lịch sử hình như có một sự sắp đặt tự nhiên mà các thế hệ con cháu từ đời này sang đời khác dày công vun đắp.Ngay từ những ngày sơ khai dựng làng mở nước, bà con ở 2 làng này đã có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau .
Từ xa xưa, khi thị trường  chưa rộng mở, bà con ở Phước Tích đã về Câu Nhi và một số vùng lân cận buôn bán bằng quan hệ Hàng – Hàng ( vật đổi vật ) bán bún,  bánh , đồ gốm đổi lấy lúa , gạo.
 
Trải qua thời gian, cuộc sống đã có nhiều thay đổi.  Chi bộ Phước Tích ra đời tháng 10-1930 chỉ sau khi Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập hơn nửa năm. Từ đó, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Đảng bộ tỉnh Quảng Trị, sau này  là Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên, Chi bộ Phước Tích đã lãnh đạo nhân dân trong xã từng bước đấu tranh, vượt qua khó khăn, gian khổ để đi đến thắng lợi hoàn toàn.Có thể khẳng định rằng , từ chi bộ Phước Tích đã ảnh hưởng đến sự thành lập của các tổ chức Đảng dọc sông Ô Lâu, trong đó có chi bộ Câu Nhi  ra đời tháng 10-1945 .
 
Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp cũng như trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, nhân dân trong vùng giáp ranh giữa Thừa Thiên Huế và Quảng Trị đã cùng nhau chia ngọt sẻ bùi, chia máu chia lửa , vượt qua gian khổ của chiến tranh ác liệt. Nhiều thế hệ học sinh của 2 làng đã cùng chung trường, chung lớp từ tiểu học cho đến đại học, nay đã trưởng thành trở thành những công dân ưu tú , làm rạng danh cho làng , cho nước.
 
Đặc biệt là trong kháng chiến chống Mỹ, tình cảm giữa bà con 2 làng càng gắn bó với nhau hơn. Sau Tết Mậu Thân 1968, các tiểu đoàn quân chủ lực  của chính quyền Sài Gòn  triển khai kế hoạch đánh chiếm miền núi và nông thôn đồng bằng . Chúng liên tục mở các chiến dịch “bình định cấp tốc”, “bình định đặc biệt” hòng đánh bật bộ đội chủ lực, lực lượng chính trị và vũ trang của ta ra khỏi các vùng nông thôn đồng bằng và thành phố, nhằm chia cắt hành lang, biến các vùng này thành hậu phương an toàn của chúng. Cũng như các huyện Hương Thủy, Phú Vang, Hương Trà, Quảng Ðiền, ở Phong Ðiền, địch ngang nhiên cày ủi ruộng vườn, nhà cửa , dồn xúc dân vào các khu tập trung gần những nơi có địch chiếm đóng để chúng dễ kiểm soát.
 
Trong thời kỳ này, ở Phong Hòa, địch dồn dân từ các làng Ưu Điềm, Trạch Phổ ., trong đó có cả xóm Hòa ( thuộc làng Câu Nhi, xã Hải Tân , huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị ) lên tập trung tại hai làng Mỹ Xuyên và Phước Tích mà chủ yếu là ở Phước Phú.
 
Từ tháng 10 năm 1968 đến tháng 1 năm 1973, bà con ở xóm Hòa – Câu Nhi sống cùng bà con Phước Tích trong tình làng nghĩa xóm. Các cụ, các mẹ ở Phước Tích coi thanh thiếu niên ở xóm Hòa như con cháu  trong làng. Những lúc các gia đình trong xóm Hòa có người thân nằm  xuống, bà con ở Phước Tích tận tình giúp đỡ tổ chức tang lễ như người trong làng. Đúng như người ta thường nói: “ Qua cơn hoạn nạn mới hiểu lòng nhau “.Và cũng chính từ mối quan hệ đó đã hình thành những tình cảm sâu nặng giữa những chàng trai, cô gái giữa hai làng mà nên nghĩa vợ chồng.
 
Năm tháng trôi qua, ngày 27 tháng 1 năm 1973, Hiệp định Paris kết thúc chiến tranh.Bà con ở xóm Hòa trở về quê cũ làm ăn nhưng trong lòng vẫn luôn nhớ đến những tháng ngày ở Phước Tích..
 
Những tình cảm của bà con ở xóm Hòa đối với Phước Tích là vậy,  riêng tôi còn có những tình cảm sâu nặng hơn.Đó là khoảng tháng 9 năm 1974, sau khi tốt nghiệp trường sư phạm Huế, tôi được Ty Giáo dục điều động về dạy  lớp 5 ở trường tiểu học Phước Tích.Năm học đó, thầy Trần Ngọc Bích làm hiệu trưởng. Cùng dạy với tôi có các thầy , cô như Lê Trọng Đào, Đoàn Văn Lụa, Hồ Ngọc Diệp, , Nguyễn Thị Thước, Phạm Trắng. …Sau đó, anh Lê Văn Lộc về thay cô Thước. Rồi chiến tranh kết thúc,đầu năm học 1975-1976, tôi được cử làm hiệu trưởng Phong Hòa, trong đó có phân hiệu Phước Tích; đến giữa năm học thì tách làm 2 trường Phong Hòa A và Phong Hòa B.Từ đó, tôi làm hiệu trưởng Phong Hòa B cho đến năm 1979 thì vào Huế.
 
Tuy không phải là người Phước Tích, cũng không phải sinh ra ở đó nhưng đã có những năm tháng gắn bó với làng với biết bao kỷ niệm thân thương, coi đó như quê hương thứ hai của mình.
 
Đỗ Hữu Hoá
Scroll To Top