Đang tải...

Qúa Trình Thành Lập Làng

Năm Hưng Long thứ 14 (1306) thời nhà Trần, Vua Chiêm Thành là Chế Mân dâng sính lễ là hai châu Ô, Rí, để xin cưới Công Chúa Huyền Trân. Năm 1307 vua Trần Anh Tông đổi tên thành Châu Thuận (phía Nam Quảng Trị) và Châu Hóa (toàn Thừa Thiên - Huế ngày nay).
Sau khi Chế Mân mất, Chế Bồng Nga lên nối ngôi thường hay đem quân sang đánh phá đòi lại đất hai châu Thuận Hoá.

Năm 1470 hiệu Hồng Đức nguyên niên, Vua Chiêm là Bàn La Trà Toàn đem mười vạn quân thuỷ bộ sang đánh Châu Hoá. Tướng Trấn giữ là Phạm Văn Hiển bỏ chạy! được tin cấp báo vua Lê Thánh Tông thân hành dẫn binh đánh đuổi giặc Chiêm. Chiến dịch thắng lợi, đưa biên giới Đại Việt vào đến đèo Đại Lãnh.

Ngài Hoàng Minh Hùng theo chiếu vua Lê ,bình Chiêm thắng lợi được triều đình phong tặng Đặc Tấn phụ quốc thượng Tướng quân, Cẩm ý vệ. Đô chỉ huy sứ, Ty chỉ huy sứ, quản trị phó tướng.

Hoàng Minh Hùng - người quê gốc làng Cảm Quyết - huyện Quỳnh Lưu - tỉnh Nghệ An. Theo chủ trương của triều đình, chiêu mộ dân vào vùng đất mới để định cư lập nghiệp, Ngài Hoàng Minh Hùng cùng với mười một ngài thuỷ tổ của 11 dòng họ đều là quê hương Cảm Quyết. Gồm các họ Đoàn, họ Hoàng, họ Hồ, họ Lê Ngọc, họ Lê Trọng, họ Lương Thanh, họ Nguyễn Phước, họ Nguyễn Bá, họ Nguyễn Duy, họ Phan Công, họ Trương Công và họ Trần Ngọc.

Tất cả là 12 dòng họ đầu tiên vào xứ Cồn Dương khai hoang lập ấp xây dựng nên Làng Phước Tích ngày nay.
Theo sách Ô Châu Cận Lục ,vào năm 1553,tên của làng là Dõng Quyết.Trước TK 16, thời (Lê Mạc) thuộc Kim Toà – Châu Hoá. Sau đổi là Cồn Dương(Giàng) xã Hiệu Phước Giang .
Triều Tây Sơn năm 1778 đổi là Hoàng Giang.
Năm 1802 Vua Gia Long đổi tên là :Phước Tích .
- Năm 1835 Phước Tích thuộc Tổng Phò Trạch
- Năm 1945 Phước Tích thuộc xã Phong Lâu (tên được đặt do xã có vị trí cạnh sông Ô Lâu)
- Năm 1958 xã đổi tên Phong Hoà, thuộc huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Dưới thời Nguyễn, ngoài việc đổi tên làng, năm 1802 Gia Long lên ngôi đặt kinh đô ở Phú Xuân. Theo lệnh, làng Phú Xuân gốc ở Tả Ngạn sông Hương phải giải toả đi tìm nơi định cư mới. Một bộ phận dân làng Phú Xuân khoảng 15 hộ đã đến dải đất phù sa của làng Phước Tích, nơi dùng trồng thuốc lá (gọi là phường thuốc) để ở, và lấy tên gốc là Phú Xuân.
 
Như vậy trên xứ Cồn Dương từ đầu triều Nguyễn có thêm làng Phú Xuân
Tại làng Phước Tích, sau 12 dòng họ đầu tiên đến khai hoang lập làng, tiếp đến thế kỷ 19 có thêm 2 họ Lê Văn và Lương Á/ Vĩnh.

Việc nhập làng của 2 họ này phải trải qua một thời gian phấn đấu, có công xung phong đi lính cho làng,nạp đủ thuế đinh, thuế điền; chấp hàh tốt quy ước , luật lệ của làng…

Đến đầu thế kỷ 20, có thêm 3 họ Nguyễn Đình, họ Lâm Văn và họ Hoàng Văn được nhập làng.

Đến đầu thế kỷ 21, xét họ Nguyễn Đức đến sinh sống tại làng đã 7 đời,có dân đinh,có nhà thờ họ, có gia phổ lý lịch rõ rang, con cháu của họ từ trước đến nay đều sinh hoạt,chấp hành khá tốt hương ước, nên ngày 05 tháng 11 Mậu Tý,tức là ngày tháng 12 năm 2008, Hội đồng tộc trưởng làng Phước Tích đồng ý cho họ Nguyễn Đức được nhập làng.

Như vậy tính đến nay, đã có 18 dòng họ có từ đường và một số bà con đến nhập cư. Tất cả trước sau đều hết lòng chung lo xây dựng quê hương làng xóm.

Lúc đầu Làng chia ra 3 xóm (Tam hoà)
Vị trí xóm ngoài : Thượng Hoà
Xóm giữa : Trung Hoà
Xóm dưới : Hạ Hoà

Đến năm Thành Thái thứ hai (1890) lập thêm Xóm Hội, Xuân Viên nhưng vẫn quen tên gọi xóm, mỗi xóm đều có xóm trưởng, xóm phó. Để điều hành công việc của xóm như tế lễ, quan hôn, tang chế ..v.v..
 
Mỗi xóm chia ra kiệt, cuối mỗi kiệt đều có xây dựng bến nước dọc theo bờ sông Ô Lâu để sinh hoạt tắm giặt, gánh nước tưới cây.Nhờ vậy cây trái vườn quanh năm tươi tốt .Trước đây trong làng có tất cả 12 bến, mỗi bến có tên gọi riêng như : bến Hội, bến Lò, bến Cừa, bến Cây Bàng, bến Đình, bến Cạn, bến Cây Thị, bến Vạn, bến Miếu Vua, bến Cầu, bến Cạn 2, bến Chùa.
Scroll To Top