Đang tải...

Xây kè dọc bờ sông Ô Lâu hợp với lòng dân Làng Cổ Phước Tích

Làng cổ Phươc Tích được Nhà Nước xếp hạng “Di Tích Quốc Gia” năm 2007, vì Phước Tích là làng cổ còn sót lại ở Miền Trung qua bao năm tháng thương đau và thăng trầm của đất nước, “hội đủ những nhân tố văn hóa lịch sử, nguồn gốc lịch sử, văn hóa vật thể, phi vật thể, kiến trúc cảnh quan, làng nghề, thậm chí khảo cổ học...” . (*).

Mấy ngày trước đây, trên báo “Tuổi Trẻ” thành phố Hồ Chí Minh có 2 bài báo “Chặt cổ thụ, lấp bến nước làng cổ” của nhà báo Thái Lộc và “Vĩnh biệt hình ảnh làng cổ tôi yêu dấu ” của GS. TS Hoàng Đạo Kính.

Tôi là người dân Phước Tích xin có đôi lời trình bày “thực hư “chuyện xây bờ kè dọc sông làng cổ Phước Tích để rộng đường dư luận đa chiều.

Vào trung tuần tháng bảy 2013 tôi về thăm làng Phước Tích, nhân dịp Đại Lễ họ Trương Công. Đứng trên cầu làng bắt qua dòng sông Ô Lâu dịu hiền, nhìn dọc suốt bờ sông của làng không còn bóng dáng màu xanh của lũy tre và những lùm cây dại chen chúc mọc ven bờ. Tôi tiếc nuối vì mất mát cảnh hồn quê của làng mà tôi đã từng yêu mến. Tôi tiếc nuối, còn GS.TS Hoàng Đạo Kính thì “sửng sốt và đau xót”.
 
Thế nhưng, vì sao con dân làng Phước Tích lại đồng thuận xây bờ kè dài chừng 1500m dọc bờ sông?.
 
Dọc bờ sông một màu xanh ngắt bao phủ che chắn đường làng từ các lũy tre xanh và cây dại. Những hàng cây dại chen chúc mọc từ Bến Ông Quyển đến Bến Hội và Miếu Đôi (khoảng 800 m). Đoạn bờ sông này không có hoặc rất ít tre. Không trồng tre được vì bờ sông bị xói mòn và sạt lở quá nặng. Trong vòng mấy năm có đoạn đã xói mòn sâu vào các vườn nhà vài chục mét. Nhất là sạt lở ở Miếu Đôi, hai Miếu thờ hai Ngài khai canh và lập nghiệp, nơi thờ cúng tâm linh của làng tôi đã từ mấy trăm năm. Đấy là thực trạng có thật ở làng. Yêu cầu làm kè chống xói mòn, sạt lở là nhu cầu chính đáng, cấp thiết của nhiều bà con. Gia đình anh Lê Trọng Tiêu đã mấy lần di chuyển con đường trước mảnh vườn nhà mình. Gia đình anh chị Lương Thanh Phác, Lương Thanh Lạc, Lê Thị Tí... cũng trong tình trạng tương tự. Bà con họ Lê Trọng, người xa kẻ gần, đã góp tiền và công sức xây kè trước Nhà thờ Họ để chống sạt lở đã sát đến chân tường.
 
Đoạn bờ sông từ Bến Cầu đến bến Ông Quyển (khoảng 700m) nguy cơ sạt lở chưa nhiều, nhưng hiện tượng khai thác cát dọc sông Ô Lâu còn đó, sự xói mòn và sạt lỡ ắt sẽ xẩy ra.
 
Phải chặt bỏ vài dãy tre xanh, những hàng cây dại đã phủ bóng mát và màu xanh dọc con đường ven sông là điều tiếc nuối của con dân làng tôi. Nhưng, nếu không biết hy sinh một phần cảnh quan dọc bờ sông thì liệu vài chục năm nữa có còn bảo tồn được nguyên giá trị của ngôi làng, mà dọc bờ sông có những Nhà Thờ Họ cổ kính đã tồn tại bao đời nay, làm tăng giá trị vật thể của Di sản Quốc Gia.
 
Tôi nghĩ, sự chọn lựa đồng thuận xây bờ kè dọc bờ sông Ô Lâu là sự chọn lựa có trách nhiệm với tổ tiên, cha ông mình và với Di Sản Quốc Gia, là thái độ có văn hóa của bà con Phước Tích quê tôi. Nhân dân làng tôi, chính quyền xã Phong Hòa, các vị chủ tịch huyện Phong Điền và nhiền cán bộ bảo tồn di sản văn hóa tỉnh Thừa Thiên đã có kế hoạch phục dựng lại những hàng tre, những thảm cỏ, và trồng thêm những cây lưu niên hiện có trong làng. Vài năm nữa, những hàng tre, những thảm cỏ, những hàng cây lưu niên lại xanh tươi che chắn vẽ trần trụi hàng kè bê tông. Màu xanh và bóng mát sẽ trở lại như xưa. Đành rằng, những hàng tre đó, màu xanh cây cỏ đó không còn có hồn quê như hồn quê đã tồn tại qua bao năm tháng thương đau của chiến tranh, nhưng thay vào đó là hồn quê của thời kỳ đổi mới, thới kỳ xây dựng đất nước “đẹp hơn, đàng hoàng hơn”. Tôi nghĩ, như vậy cũng là thái độ văn hóa với bảo tồn và phát triển Di Sản Quốc Gia. Có người cho rằng, chống sạt lỡ dọc bờ sông có lẽ nên làm khác hơn. Tôi nghĩ, điều đó phụ thuộc và khả năng tài chính. Tỉnh Thừa Thiên Huế là một tỉnh nghèo có bao nhiêu việc phải làm.
Khi xây bờ kè có “chặt cây cổ thụ và lấp bến nước làng cổ” không?.
 
Tôi xin khẳng định điều đó hoàn toàn không xẩy ra.
 
Có lẽ nhà báo Thái Lộc rất yêu mến làng tôi nên đã hơi quá nặng lời. Tôi xin nêu dẫn chứng như sau:
 
Dọc bờ sông ngoài Cây Bàng, tuyệt nhiên không có cây cổ thụ nào khác. Cây Bàng cổ thụ trước mặt nhà thờ họ Hồ và họ Trương Công ngay tại bến Cây Bàng đã được bảo tồn, chăm sóc từ trước và nay còn gia cố thêm. Đội thi công không chặt cây cổ thụ làng tôi.
 
Làng tôi có 12 bến nước. Phước Tích là làng “nho nhã”, con số 12 có ý nghĩa phong thủy. Những kỷ niệm về bến nước làng tôi đã đã đi vào thơ ca của bao chàng trai cô gái đã một thời sinh ra và lớn lên ở nơi này. Có anh bộ đội Cụ Hồ trong ba lô có bài thơ “Bến nước Phước Tích quê tôi” vừa sáng tác trước giờ xung trận và hy sinh. Đã từ lâu, dân làng tôi không sử dụng nước từ bến sông, vì có nước máy từ dự án môi trường của  chính phủ Thụy Điển. Nước máy vào tận nhà. Tôn trọng những kỷ niệm, con dân làng tôi đã tu sửa, xây đắp lại các bến nước như Bến Hội, Bến Cừa, Bến Cây Bàng, Bến Đình, Bến Cạn, Bến Vạn, Bến Ông Dĩ, Bến Chùa. Các bến đó vẫn hiện hữu trên bờ kè dọc sông làng Phước Tích. Dân làng chưa kịp phục dựng lại Bến Lò và Bến Miếu Vua vì đã mấy chục năm nay bị vùi lấp quá sâu do không có người lui tới. Đội thi công có lấp bến nước đâu. Xin đừng viết như nhà báo Thái Lộc làm đau lòng bà con Phước Tích.
 
Qua những dẫn chứng đã nêu, dân làng Phước Tích đồng thuận với chính quyền xây kè dọc bờ sông Ô Lâu là có cơ sở.
 
Xin có đôi lời về dân Phước Tích “được gì” từ ngày Làng Cổ Phước Tích có quyết đinh của Nhà Nước xếp hạng Di sản Quốc Gia?.
 
Cảm nhận của dân làng tôi (xin viết hoa) “Được Nhiều Lắm”.
 
“Những nhân tố văn hóa lịch sử, nguồn gốc lịch sử, văn hóa vật thể, phi vật thể, kiến trúc cảnh quan, làng nghề, thậm chí khảo cổ học...” của làng đã được chăm sóc gìn giữ chu đáo. Cứ đến ngày Đại Lễ các họ, bà con nội ngoại, từ trong nước, ngoài nước tấp nập kéo về có đến năm, bảy trăm người.
 
Những con đường trong làng cổ không những được bảo tồn mà còn được tu sửa. Con đường lót gạch cổ được phục dựng đem lại sự thoáng mát và sạch sẽ. Vì thế, cứ sáng đến bà con Phước Tích và bà con những vùng lân cận như Phú Xuân, Mỹ Chánh, Hội Kỳ đi bộ tập thể dục dọc đường làng với nét mặt vui tươi hồ hởi. Khách du lịch trong và ngoài nước thường xuyên lui tới, đem lại bao điều mới mẽ. Huyện Phong Điền cung cấp kinh phí xây nhà “Sinh hoạt cộng đồng” tạo điều kiện để bà con hội họp và vui chơi. Một bộ sưu tập “Gốm Phước Tích” đươc trưng bày ngay tại nhà anh Lê Trong Diễn. Đời sống văn hóa tinh thần trong làng có nhiều đổi thay. Cán bộ của huyện Phong Điền sát cánh với bà con Phước Tích khôi phục làng nghề. Gốm Phước Tích đã có mặt trong các ngày hội Festival và bán hết ngay tại “Hội Chợ Gốm” tỉnh Bình Dương. Hiện nay, huyện Phong Điền đang chi ngân sách để phục dựng lại con đường liên thôn từ Hà đến Cống đầu làng và phục dựng lại các đường kiệt Xóm Hội. Ngôi nhà rường cổ của ông Nghè Cử đã được trùng tu, hiện vừa khai trương trùng tu ngôi nhà rường cổ của ông Cửu Cầm. Làng Phước Tích nghèo, nếu không có sự quan tâm của các ông Chủ tich và các cấp chính quyền của xã Phong Hòa, của huyện Phong Điền, của tỉnh Thừa Thiên-Huế và sự viện trợ của các Tổ chức Quốc tế thì dân Phước Tích đâu có đủ điều kiện làm được những điều như thế!.
 
Đời sống nhân dân làng cổ Phước Tích tuy chưa “đi lên từ chính di sản của mình” như mong muốn của GS.TS Hoàng Đạo Kính, nhưng với sự quan tâm của các cấp chính quyền, nhà nước và sự nỗ lực của người dân, những hy vọng của bà con Phước Tích về cuộc sống ấm no hạnh phúc là điều hiện thực.
 
Bà con Phước Tích quê tôi, những người đang sống và làm việc tại thành phố Hố Chí Minh, xin cám ơn báo “ Tuổi Trẻ” tp Hồ Chí Minh, cám ơn nhà báo Thái Lộc và đặc biệt xin cám ơn GS.TS Hoàng Đạo kính đã có những lời cảnh tỉnh để nhân dân làng tôi cẩn trọng hơn trong việc bảo tồn và phát triển Làng Cổ Phước Tích- Di Sản Quốc Gia, góp phần thỏa lòng mong ước của bà con xa gần ở trong nước cũng như ở nước ngoài.
 
(*)Tham luận của GS.TS Hoàng Đạo Kính tại “Hội thảo Làng Di sản Phước Tích” năm 2004 ở Huế.
 
Tp Hồ Chí Minh ngày 2-9-2013
PGS. TS Trương Thế Kỷ
Scroll To Top